Chương 147: Đáy Chum
Tạ Tiểu Bảo nhận được lời nhắn của Mộc Vô Nhai vào lúc đang ăn sáng.
Người đưa tin đặt một mảnh giấy cạnh bát cháo. Trên đó chỉ có mấy chữ: chiều nay thầy xuống, muốn gặp hắn ở khu ở. Bảo đọc xong, hỏi người đưa tin có biết thầy tới vì chuyện gì không.
“Ta chỉ nhận lời chuyển giấy.”
“Thầy có nói giờ nào không?”
“Sau bữa trưa.”
Bảo gấp giấy lại. Hắn còn muốn hỏi thầy có đem cái nồi xuống không, nhưng người đưa tin đã nói rõ mình chỉ nhận lời chuyển giấy. Hắn đành hỏi câu khác:
“Thúc ăn chưa?”
“Ăn rồi.”
“Vậy con ăn tiếp.”
Hắn ăn hết cháo, dùng một đồng mua thêm bánh. Lúc cất tiền, hắn tách khoản vừa trả khỏi ba đồng đã để riêng hôm qua. Ba đồng ấy vẫn nằm ở góc hòm; hắn chưa biết chuyến nhận nồi cần dùng bao nhiêu, nên không mang chúng ra mua bánh.
Buổi sáng, hắn ghé bảng kho. Không có việc phù hợp với lời dặn của Dư An, hắn liền tới y vụ hỏi xem đầu gối có thể đi đường xa hơn chưa. Dư An bảo hắn đi vài bước, hỏi chỗ đau khi lên xuống bậc, rồi xem lại vết trầy.
“Đỡ rồi,” nàng nói. “Nhưng đường núi trơn thì vẫn phải cẩn thận. Hôm nay đừng tự thử mang nặng để xem mình đã khỏe chưa.”
“Con định hỏi trước.”
“Vậy hỏi đi.”
“Nếu con muốn tới nhà thầy, lúc nào đi được?”
“Ta không biết hôm ấy đường thế nào. Ngươi nói với thầy về đầu gối; nếu muốn đi, chọn lúc đường khô, có người đi cùng và quay lại nếu đau tăng. Đừng hẹn giờ về quá gấp.”
Bảo ghi nhớ. Hắn không hỏi nàng đoán xem trời mấy ngày nữa có mưa không. Ra khỏi y vụ, hắn tới khu nuôi thay nước cho Ô Kê. Con gà đã làm đổ vài hạt kê ra mép máng, nhưng cái hõm sát rào không sâu thêm. Hắn cho một lượt kê, khép cửa rồi đi về phòng chuẩn bị chỗ ngồi.
Mộc tới sau bữa trưa. Ông không mang cái nồi, cũng không mang mảnh kim loại. Trong tay ông chỉ có một cái bọc vải và một đoạn que mỏng. Bảo nhìn cái bọc, thầy hắn nhìn lại.
“Con định hỏi gì?”
“Nồi của con đâu?”
“Vẫn ở chỗ đã gửi.”
“Con tưởng hôm nay thầy đem xuống.”
“Ta chưa nói vậy.”
“Người nhắn chỉ nói thầy tới.”
“Thế thì người ấy nhắn đúng.”
Bảo kéo ghế cho thầy. Hắn kể lời Dư An dặn: có thể đi đường xa hơn khi chọn lúc khô, không mang nặng, phải đi cùng người khác và dừng nếu đau tăng. Mộc nghe, hỏi hắn đã thử đi xuống bậc thế nào. Bảo nói vẫn chậm hơn chân còn lại, nhất là lúc mới đứng sau khi ngồi lâu.
“Vậy chưa hẹn ngày lấy nồi,” Mộc nói. “Ta sẽ hỏi người phụ trách giữ lối về việc con nhận lại đồ ở nhà ta. Khi có đường đi và người đi cùng, ta sẽ báo con.”
“Cần báo người giữ lối trước không?”
“Ta sẽ hỏi họ trước khi con tới nhận.”
“Con cần mang giấy gì không?”
“Ta sẽ hỏi rõ.”
Bảo thở ra. Hắn tưởng hôm nay sẽ biết ngày có thể nhận lại chiếc nồi. Hắn rót nước cho thầy, rồi tự rót nửa bát. Mộc cởi bọc vải, lấy ra một chiếc bát cũ và một mẩu than.
“Thầy xuống để ăn cơm?”
“Con vừa ăn chưa?”
“Rồi.”
“Ta cũng vậy.”
“Vậy cái bát làm gì?”
Mộc đặt bát lên bàn. “Hôm trước con kể chuyện đội nhận nước. Ta muốn nghe lại.”
Bảo kể về mười hai chiếc bình sạch, chín nắp có sẵn, hai nắp mượn ở bếp và chiếc nắp tới sau. Hắn kể việc giao mười một chiếc trước, một chiếc sau. Mộc nghe tới đó, đặt mẩu than xuống.
“Con kể bình. Ta hỏi nước.”
“Người nhận đong sau. Con không biết họ đong bao nhiêu.”
“Ừ. Vậy không lấy số bình làm số phần nước.”
Mộc nhìn quanh phòng. Cạnh cửa có chiếc chum nhỏ Bảo dùng lấy nước sinh hoạt. Ông hỏi hắn trong đó còn bao nhiêu. Bảo nhìn mực nước thấp hơn miệng chum một gang, đáp:
“Còn nhiều.”
“Đủ cho mấy ngày?”
“Con chưa biết.”
“Vậy làm sao biết nhiều?”
Bảo đặt bát xuống, tới cạnh chum. Hắn nhìn từ trên xuống; đáy tối, mép chum phình ở giữa. Hắn định lấy gáo múc ra đếm, nhưng Mộc hỏi trước:
“Con định đổ nước đã múc vào đâu?”
Bảo nhìn quanh. Chỉ có một chiếc chậu, còn dùng để rửa bát. Nếu múc hết ra chậu rồi đổ lại, hắn có thể làm bẩn nước sạch. Hắn quay lại lấy chiếc que mỏng thầy mang tới.
“Đánh dấu mức nước được không?”
“Được. Nhưng cái que cho con biết chiều cao, không tự cho biết trong chum có bao nhiêu bát.”
Bảo đặt que xuống, nghĩ một lúc rồi mở cửa gọi người ở phòng bên. Người ấy có một chiếc bình sạch và đồng ý cho mượn tới cuối buổi. Bảo hỏi rõ bình đã rửa chưa; người hàng xóm bảo mới rửa sáng nay, chưa dùng. Hắn cảm ơn, đặt bình cạnh chum.
Mộc bảo hắn đừng bê chum. Bảo dùng bát cũ múc nước, mỗi bát đổ vào bình. Tới bát thứ ba, nước gần miệng bình; bát thứ tư chỉ đổ được một phần, phần còn lại Bảo giữ trong bát. Hắn nhìn bát rồi nhìn bình.
“Một bình bằng ba bát rưỡi?”
“Con đong đầy từng bát như nhau chưa?”
Bảo nhớ bát đầu tiên hắn múc thấp hơn mép vì sợ đổ, bát thứ hai lại đầy hơn. Hắn lắc đầu.
“Vậy con chỉ biết bình chứa được từng ấy trong lần đong vừa rồi.”
Bảo nhìn thầy. “Nếu làm lại thì hết buổi.”
“Có thể. Hôm nay con cần biết chính xác tới đâu?”
Hắn nghĩ một lát. Chum này chỉ dùng cho mình; hắn muốn biết còn đủ tới lúc người cấp nước tới lượt hay không. Không cần biết bình chứa đúng bao nhiêu nếu hắn đếm được số lần múc bằng chiếc gáo đang dùng hằng ngày.
Bảo đổ nước từ bình và bát sạch trở lại chum, rồi lấy gáo. Hắn hỏi người hàng xóm có thể mượn thêm một chậu sạch không. Hai người chuyển nước từ chum sang bình và chậu; Mộc ngồi ở cửa, cầm mảnh than ghi mỗi lượt. Ông không để Bảo cúi sâu: chỗ nước còn cao thì hắn múc, khi mực xuống thấp người hàng xóm đổi tay.
“Con chưa đau,” Bảo nói.
“Ta biết. Người ta đang đứng gần chum hơn.”
Đến lượt cuối, miệng gáo chạm đáy mà không đầy. Người hàng xóm nghiêng chum một chút, phần còn lại chảy về một phía. Bảo thấy dưới đáy có một lớp cặn mỏng.
“Không đổ phần ấy vào bình nước uống,” người hàng xóm nói. “Để riêng rửa sân.”
Họ đếm được sáu gáo gần đầy và một ít nước cuối để riêng. Bảo nhìn con số Mộc ghi, lại nhìn bình và chậu. Người hàng xóm giúp rửa chum, tráng sạch cặn rồi đổ nước dùng được trở lại. Họ không đổ phần nước đục ở đáy vào chung.
Xong việc, Bảo đem trả bình và chậu. Hắn cảm ơn, hứa khi người cấp nước tới sẽ nhắn để hàng xóm tiện lấy. Người kia nói không cần hứa hộ giờ của người cấp; chỉ cần báo nếu thấy họ đi qua. Bảo đồng ý.
Mộc đặt mẩu than vào tay hắn. “Một ngày con dùng mấy gáo?”
Bảo tính: uống và rửa bát, một ít rửa mặt; hôm giặt đồ thì hơn. Hắn không dùng đúng một lượng mỗi ngày. Hôm qua hắn còn lấy nước cho Ô Kê ở khu nuôi, từ chum tại đó chứ không phải chum trong phòng.
“Ngày bình thường khoảng hai gáo,” hắn nói. “Nhưng con chưa ghi đủ các ngày.”
“Vậy sáu gáo có chắc đủ ba ngày không?”
“Nếu đúng hai gáo mỗi ngày thì đủ. Nhưng con chưa chắc.”
“Con còn cần nước làm gì?”
Bảo nhìn tấm khăn phơi bên cửa. Hôm sau hắn định giặt khăn, lại có thể cần rửa chân sau khi đi sân. Hắn lấy giấy ghi: sáu gáo dùng được, phần cặn để riêng; ngày thường ước hai gáo, chưa tính ngày giặt. Hắn để khoảng trống phía dưới cho lượt lấy nước tiếp theo.
Mộc xem xong, hỏi nếu người cấp nước đến muộn một ngày thì hắn làm gì. Bảo trả lời ngay:
“Mua thêm.”
“Ai bán?”
“Con chưa hỏi.”
“Nếu không có người bán?”
“Xin hàng xóm?”
“Hàng xóm còn bao nhiêu?”
Bảo ngẩng lên. “Thầy định để con khát à?”
“Ta đang ngồi cạnh chum vừa đầy lại.”
“Chum chưa đầy.”
“Vậy đừng nói nó đầy.”
Bảo nhìn thầy, rồi nhìn phần nước dưới miệng chum. Hắn lấy tay vuốt mặt giấy cho phẳng. Một lát sau, hắn nói sẽ hỏi lịch cấp nước, hỏi trước nhà bên có thể giúp nhau thế nào khi một người thiếu, và dành riêng nước uống trước khi dùng phần còn lại. Hắn không tự tính nước của hàng xóm vào phần của mình.
Mộc gật đầu. Ông không giảng thêm, chỉ hỏi Bảo có nhớ bài cầm bát ở sân nhà gỗ không. Bảo nói nhớ: nửa bát nước, đi chậm, thầy nhìn chân và nhịp thở chứ không nhìn nước. Hôm ấy hắn đã hỏi bao lâu, còn thầy bảo đang nhìn.
“Hôm nay thầy cũng đang nhìn?”
“Ta đang chờ con trả lời.”
“Con đã trả lời rồi.”
“Vậy ta về được chưa?”
Bảo kéo chiếc bát cũ về phía mình. “Bát này thầy mang lên, hay để con giữ?”
“Để đây. Lần sau ta dùng.”
Mộc đứng dậy. Trước khi về, ông nói sẽ hỏi người phụ trách giữ lối về việc nhận nồi, nhưng chưa hẹn ngày khi đường và chân của Bảo chưa ổn. Bảo tiễn thầy ra cửa, rồi sang báo với hàng xóm rằng đã trả đủ bình và chậu. Người kia cười, bảo chính mình đã nhận tận tay, không cần báo thêm; Bảo vẫn thấy nói một câu còn hơn để trong đầu.
Chiều tối, hắn hỏi người trực khu ở lịch cấp nước dự kiến. Người ấy chỉ bảng, nói nếu mưa lớn làm chậm chuyến sẽ dán giấy mới. Bảo ghi ngày dự kiến, về ăn cơm rồi kiểm nước và kê cho Ô Kê. Con gà nhìn bát cũ thầy để lại, mổ nhẹ vào đáy khi hắn vừa đặt gần rào.
“Không có cơm.”
Ô Kê nghiêng đầu.
“Đây là bát để đo.”
Nó mổ thêm một cái. Bảo nhấc bát lên, thấy một hạt kê còn dính dưới đáy. Hắn gạt hạt ấy vào máng, cài chốt rồi mang bát về.
Trên bàn có tờ giấy ghi sáu gáo nước dùng được. Bảo đặt chiếc bát cũ lên mép giấy, bên cạnh mẩu than.