Chương 143: Nước Đến Trước Người
Buổi sáng, trước cửa kho có ba chiếc thùng rỗng.
Tạ Tiểu Bảo đi ngang qua, tưởng có người vừa trả đồ, liền tránh sang một bên. Nhưng một người khuân nước đang đặt thùng thứ tư xuống, hai vai còn ướt. Ông nhìn hắn rồi nhìn chiếc đòn gánh.
“Ngươi có thấy người nhận không?”
Bảo lắc đầu. “Con mới tới.”
Người khuân nước đặt đòn gánh dựa tường, đi vào hỏi. Một lát sau ông trở ra cùng người coi kho. Người coi cầm phiếu, nhìn bốn chiếc thùng rồi nhíu mày.
“Phiếu ghi sáu.”
“Ta mới mang bốn. Hai chiếc nữa ở bếp.”
“Vậy để ta ghi bốn chiếc đã tới.”
Người coi kho đặt phiếu trên nắp thùng, tìm chỗ viết thêm. Mực ở đầu bút vừa chạm giấy, người khuân nước đã giữ tay ông lại.
“Hai chiếc ở bếp không phải chưa mang. Bếp mượn từ sáng, bảo sẽ trả thẳng cho kho.”
“Có giấy mượn không?”
“Có. Nhưng giấy nằm ở bếp.”
Bảo nhìn bốn chiếc thùng. Trên phiếu có một dòng nhận sáu chiếc, không có chỗ ghi hai chiếc đang được mượn. Nếu chỉ ghi bốn, lát nữa người ở bếp mang tới có thể tưởng thiếu hai chiếc khác. Nếu ghi sáu, kho lại chưa có đủ.
Người coi kho không vội ký. Ông nhờ người khuân nước sang bếp lấy giấy mượn, còn mình nhận bốn chiếc trước. Bảo đứng nép dưới hiên. Hắn chưa được giao việc, nhưng thấy một chiếc thùng nghiêng về phía rãnh nước, bèn hỏi có thể chèn lại không.
“Đừng khiêng,” người coi kho nói. “Lấy miếng gỗ dưới chân giá, đẩy vào chỗ nó đang nghiêng.”
Bảo làm theo, dùng chân lành giữ miếng gỗ rồi đẩy thùng đứng vững. Người coi kho ghi vào tờ giấy nhỏ: bốn thùng đã nhận, hai đang ở bếp, chờ đối phiếu. Ông đặt giấy ấy lên chồng sổ, không gạch số sáu trong phiếu cũ.
“Hôm nay con có thể làm việc nhẹ không?” Bảo hỏi.
“Đầu gối thế nào?”
“Đi gần được. Con vẫn tránh mang nặng.”
“Vậy giúp ta đếm bình sạch. Ngồi ở bàn trong, không phải xếp lên giá.”
Bảo nhận việc, kéo ghế ngồi cạnh cửa. Trên bàn có hai giỏ bình nhỏ đã rửa, miệng úp xuống trên lớp vải. Người coi kho bảo hắn đếm số bình không nứt, ghi riêng bình còn nguyên nắp; chiếc nào thấy vết lạ thì để một bên, không tự quyết định bỏ.
Hắn lật từng chiếc. Đáy bình thứ ba có vệt màu nâu chạy từ giữa ra mép. Ban đầu Bảo tưởng đó là đường nứt, nhưng dùng khăn lau thì vệt ấy nhạt đi. Hắn ngẩng lên định báo, người coi kho đã đứng bên cạnh.
“Để ta xem.”
Ông cầm bình nghiêng ra ánh sáng. Vệt nâu còn lại nằm dưới lớp men, không cắt qua thành bình. Ông gõ khẽ, rồi đặt nó vào nhóm dùng được.
“Con suýt để nhầm sang bên hỏng.”
“Ngươi để riêng để hỏi, chưa bỏ nó.”
Bảo tiếp tục. Hắn đếm được mười hai bình dùng được; trong đó chín chiếc có nắp. Hai chiếc khác cần người coi xem miệng vì sứt nhẹ. Hắn ghi hai con số vào giấy, rồi nhìn ba chiếc không nắp.
“Nếu không có nắp, chúng có được tính là bình sạch không ạ?”
“Vẫn sạch. Nhưng muốn mang nước đi thì phải tìm nắp hoặc có cách đậy khác.”
Bảo gạch dòng vừa viết, tách thành hai: bình sạch dùng được và số nắp đi cùng. Người coi kho xem rồi gật. Ông không bảo hắn chép lại cho đẹp; tờ giấy phải đi cùng số bình, còn nét gạch vẫn đọc được.
Khi người khuân nước quay lại, ông mang theo phiếu mượn của bếp và hai chiếc thùng. Một chiếc còn ướt đáy. Người coi kho đối số, ghi vào sổ rồi trả phiếu mượn cho ông đem về bếp.
“Giờ đủ sáu,” Bảo nói.
“Đủ sáu thùng. Còn nước thì chưa đủ.”
Bảo nhìn bốn chiếc đã úp xuống. “Nước đi đâu rồi?”
“Đội sửa đường cần nước rửa và người khuân đồ cần uống. Bếp cũng đang chuẩn bị phần ăn cho họ.”
Người coi kho chỉ tờ giấy bên cạnh. Đợt kiểm tuyến chuẩn bị mang đồ tới đoạn ngoài trạm Vạn Yêu; đường vào sâu vẫn chưa được mở cho người không có việc. Sáng nay kho nhận thùng về để kiểm, chiều mới giao tiếp theo danh sách. Hai thùng bếp mượn đã được dùng từ trước, nên người nhận sau phải biết bình nào đầy, bình nào chưa đong.
Bảo nhìn tờ phiếu. Hắn nhớ dưới lòng đất, một chiếc bình được chuyền từ tay này sang tay khác; khi ấy ai cũng biết trong bình còn bao nhiêu vì người đang cầm phải trả lời ngay. Ở đây bình nằm thành hàng, người nhận chưa đến, người giao nước lại đang ở ngoài sân.
“Con ghi giúp được không?” hắn hỏi.
“Ngươi ghi số bình đã kiểm trước đã.”
“Con đã ghi rồi.”
“Vậy đưa ta xem.”
Người coi kho đọc, chỉ vào dòng chín chiếc có nắp. “Nếu ta giao cả mười hai, người nhận cần biết ba chiếc còn lại đậy thế nào. Ngươi hỏi bếp xem có nắp vừa hay vải buộc miệng không. Mang một chiếc bình rỗng làm mẫu thôi.”
Bảo cầm tờ giấy và một chiếc bình rỗng, để giỏ lại. Ở bếp, người phụ đang rửa nắp gỗ. Bà thử một chiếc lên miệng bình; chiếc nắp lọt quá sâu. Bảo giữ bình trên mặt bàn, không cần nhấc lâu. Bà đổi chiếc khác, lần này vừa khít.
“Chúng ta có hai cái cỡ này,” bà nói. “Cái thứ ba đang đậy bình ở bếp.”
“Con mượn cả ba được không?”
“Bình ở bếp đang dùng. Chiều trả được thì ta gửi sau. Hai cái này ngươi mang về trước.”
Bảo định ghi “ba nắp”, nhưng nhớ chiếc thứ ba chưa có trên bàn. Hắn ghi hai nắp nhận, một nắp bếp đang dùng và chờ trả. Người phụ bếp xem dòng ấy, bảo hắn thêm vào: nếu bình ở bếp vẫn còn nước, chưa thể chuyển nắp ngay. Hắn thêm một câu, rồi cầm hai chiếc nắp về kho.
Bữa trưa hôm ấy có cơm và canh bí. Bảo mua thêm một cái bánh bằng một đồng từ số tiền công vừa nhận. Hắn ăn nửa cái lúc chờ canh nguội, nửa còn lại gói để chiều. Khi quay về kho, mười hai chiếc bình đã được người khác mang ra bàn giao. Người coi kho gọi hắn đến đọc tờ giấy.
“Chín bình có nắp từ đầu, thêm hai nắp nhận ở bếp. Còn một bình chưa có nắp,” Bảo đọc.
Người nhận đồ hỏi: “Bình ấy có dùng được không?”
“Dùng được, nhưng con không biết lấy gì đậy để đi đường.”
Người nhận nhìn sang người coi kho. Họ quyết định để bình chưa có nắp lại, giao mười một chiếc trước. Người coi kho ghi vào phiếu số thực nhận; Bảo đánh dấu chiếc còn lại bằng một dải vải, đặt ở góc bàn theo chỉ dẫn.
Một lúc sau, người phụ bếp đem nắp thứ ba tới. Bà đã chuyển phần nước trong bình ở bếp sang một chiếc khác, rửa nắp và để khô. Bảo thử nắp lên bình còn lại. Lần này nó vừa. Hắn tìm người nhận đồ, nhưng người ấy đã đi cùng lượt đầu.
Bảo cầm bình, bước được hai bước thì dừng. Đầu gối không đau nhiều, chiếc bình rỗng cũng nhẹ, nhưng Dư An từng dặn hắn tránh mang nặng; quan trọng hơn, hắn không biết người nhận có còn ở sân ngoài hay đã rời đi. Hắn đặt bình xuống bàn, tới hỏi người coi kho.
“Con muốn mang bình cuối ra.”
“Ngươi biết họ đang ở đâu không?”
“Không ạ.”
“Vậy để ta nhờ người chuyển đồ. Ngươi ghi phiếu bổ sung, đừng sửa số mười một đã giao.”
Bảo viết thêm một dòng: một bình, một nắp, giao sau. Hắn đưa phiếu cho người chuyển cùng chiếc bình. Trước khi người ấy đi, Bảo hỏi có cần giữ mảnh giấy nào không. Người coi kho xé phần xác nhận theo nếp đã có, giữ lại một nửa, đưa nửa kia cho người chuyển.
Đến cuối buổi, phần xác nhận được mang về có chữ ký người nhận. Người coi kho đối hai mảnh giấy và đặt chúng cạnh phiếu ban đầu. Bảo nhìn ba dòng: mười hai bình sạch, mười một bình giao trước, một bình giao sau. Lần này tổng số khớp, mà giờ giao của chiếc cuối vẫn còn nguyên.
“Xong rồi ạ?” hắn hỏi.
“Phần giao bình xong.”
“Còn nước?”
“Người nhận sẽ đong và ghi phần của họ.”
Bảo gật. Hắn trả đầu bút mượn, ăn nốt nửa chiếc bánh đã bọc từ trưa. Người coi kho ghi ca hỗ trợ của hắn vào bảng, cho biết tiền vẫn phát theo kỳ. Bảo không hỏi ngay bao nhiêu; hắn đã nhận tiền chuyến đi, còn việc này mới làm xong hôm nay.
Trên đường về, hắn gặp một người mang tập giấy tới phòng Hứa Đồng. Thấy Bảo, người ấy dừng lại hỏi hắn có phải người đã báo về cửa hẹp không. Hắn đáp đúng, nhưng khi người ấy hỏi đường vào hiện đã mở chưa, hắn lắc đầu.
“Con chưa được báo. Hứa quản sự bảo đội kiểm tuyến quyết định.”
Người kia nói mình cũng đang tìm thông tin ấy, rồi đi tiếp. Bảo nhìn tập giấy được buộc dây trong tay người đó. Hắn muốn hỏi có phải giấy về hình vẽ của mình không, nhưng người ấy đã vào phòng, còn hắn chỉ biết một việc: cho tới lúc này chưa ai báo đường mở.
Hắn tới khu nuôi, đổ lượt kê thứ hai cho Ô Kê và kiểm nước. Con gà mổ hết những hạt ở gần mép máng trước, để lại một khoảng trống nhỏ giữa đống kê. Bảo định vuốt cho phẳng, rồi thôi; hắn chỉ cần biết còn đủ tới sáng.
Về phòng, hắn lấy tờ ghi các việc ra. Dòng chờ đội phụ trách xem phần bổ sung vẫn chưa thể gạch. Hắn thêm bên cạnh: hôm nay có người hỏi đường, chưa biết kết quả kiểm tuyến. Dưới đó, hắn ghi số tiền đã tiêu cho bánh và đặt đồng tiền còn lại vào chỗ cất.
Ngoài cửa, gió làm mép giấy khẽ nhấc lên. Bảo dùng cái chén rỗng chặn góc giấy.