Chương 248: Một Dòng Trong Sổ Cũ
Chiếc lồng đã bị kéo ra giữa sân chuồng.
Bảo đến lúc người trông chuồng đang quét rơm. Ô Kê đứng trên nóc lồng, cúi đầu mổ cái then tre, nghe tiếng cậu gọi thì nhảy xuống. Một vệt thóc rơi từ cửa chuồng đến góc sân; ít hạt cuối cùng nằm trong lồng đã hết sạch.
“Nó vào rồi à?” Bảo hỏi.
“Vào ăn. Ăn xong thì lùi ra, lấy chân đạp đổ cái bát.” Người trông chuồng dừng chổi. “Ta kéo lồng ra đây cho dễ quét, nó liền nhảy lên.”
Bảo cúi nhặt cái bát nhỏ. Cậu đặt bát lại vào trong, rắc thêm một nắm thóc. Ô Kê đi vòng quanh chân cậu, mổ hai hạt vương ngoài cửa, rồi thò đầu vào. Nó không bước hẳn vào lồng, cổ kéo dài hết sức, chân vẫn đứng bên ngoài.
“Ngươi ăn kiểu ấy có mỏi không?”
Ô Kê không trả lời. Nó cố với hạt thóc xa nhất, đột nhiên cái bát trượt đến gần cửa. Bảo nhìn theo, thấy lông cánh nó khẽ cọ vào một nan tre. Cái lồng nghiêng về phía trước, lại bị cậu giữ kịp.
Người trông chuồng bật cười. “Cậu mà xách nó qua đường nước, nhớ giữ cho ngay. Nghiêng như thế thì cả gà lẫn thóc đều rơi.”
Bảo thử nhấc chiếc lồng rỗng bằng một tay. Quai tre cứa vào lòng bàn tay. Cậu đổi tay, bước qua cái rãnh bên sân; cái lồng lắc mạnh, bát bên trong đập vào đáy.
Cậu đặt xuống, thử buộc quai bằng một đoạn vải. Lần này dễ cầm hơn, nhưng khi bước qua rãnh, bát vẫn lật. Ô Kê đứng bên ngoài nhìn cậu, rồi thản nhiên mổ thóc rơi xuống đất.
“Chưa cần cho nó ăn lúc đang xách,” người trông chuồng bảo. “Nhưng lồng này thấp, quãng dài nó khó xoay. Nếu mang theo thật, cậu phải cho nó nghỉ dọc đường.”
Bảo nhìn chiều dài chiếc lồng. Cậu đã chỉ nghĩ đến chuyện làm sao buộc cửa cho chắc, chưa nghĩ đến việc Ô Kê có thể đứng trong đó bao lâu.
“Cháu mượn thử thêm hôm nay được không?”
“Được. Đừng lấy thóc của đám gà khác làm mồi là được.”
Bảo gom những hạt còn sạch trả vào bát. Trước lúc đi, cậu mở cửa lồng rộng ra và đặt bát ở ngay ngưỡng. Ô Kê chờ cậu lùi lại mới bước tới. Lần này nó đặt một chân vào trong, mổ nhanh mấy hạt, rồi rút chân về.
Đến trưa, Mộc tìm cậu ở bếp. Lão không mang bản đồ mà đem theo một tờ giấy gấp đôi.
“Ông Từ có tin rồi. Người giữ sổ đồng ý cho ta xem đoạn liên quan. Ngươi rảnh chưa?”
Bảo nhìn nồi nước vừa đặt lên bếp. Thanh Nghi đưa tay nhận cái vá từ cậu.
“Để tôi trông. Cậu đi đi, nhưng trước bữa chiều phải về phụ chia cơm.”
“Vâng.” Bảo lau tay vào khăn. “Em sẽ về đúng giờ.”
Hai người đến một căn phòng nhỏ bên kho hàng của hội. Ông Từ đã chờ ở đó cùng một người đàn bà tóc điểm bạc, trước mặt bà là cuốn sổ bọc vải. Bà tháo dây buộc, lật từng trang bằng đầu ngón tay khô, không để Bảo và Mộc tự giở.
“Cuốn này chép tin gửi đến, không phải sổ kiểm tra cửa,” bà nói. “Một người nói sao thì ghi vậy. Chỗ nào chưa được xác nhận, bên cạnh có dấu.”
Mộc đặt bản chép của Phúc xuống bàn. Ông Từ nhìn hàng chữ, rồi chỉ vào một trang sổ. Dưới mục thứ chín có mấy dòng ngắn, nét bút không đều. Người giữ sổ đọc rõ từng chữ:
“Lạc Kê. Người đưa tin nói bếp phía cũ đã tắt. Chưa gặp người trực. Xin hỏi lại chuyến sau.”
Bảo đứng sát mép bàn. “Bếp phía cũ là bếp nào ạ?”
“Trong dòng này không ghi.” Bà chỉ một dấu ở lề. “Dấu này nghĩa là tin do người khác kể, chưa được người của hội kiểm lại.”
Cậu nhìn sang ngày ghi bên trên. Đó là một bản tin cũ, không phải chuyện mới xảy ra hôm qua. Sau dòng ấy còn một khoảng giấy trống, rồi tới tên một nơi khác. Không có câu trả lời cho lần hỏi tiếp ngay trên trang này.
“Có người đi hỏi lại không?” Mộc hỏi.
“Phải xem sổ chuyến sau.” Người giữ sổ nói. “Tôi chỉ mang cuốn ông Từ nhờ tìm. Cuốn kia nằm trong kho, chưa biết còn đủ hay không.”
Bảo chạm vào mép bàn, không chạm vào sổ. “Người đưa tin tên gì ạ?”
Bà chỉ một cái tên viết nhỏ bên dưới. Mực ở chữ đầu đã nhòe, chữ sau còn rõ. “Ta đọc không chắc. Có thể tra theo dấu nhận tin, nếu sổ lượt đi còn ở kho.”
Mộc lấy giấy chép nguyên dòng, để trống chỗ tên không đọc được. Bảo chú ý bên cạnh dòng tin có một dấu tròn, giống dấu trên bản chép của Phúc. Ông Từ gật đầu khi cậu chỉ ra.
“Ở đây dấu ấy chỉ nơi nhận tin. Còn trên bản đồ của lão Mộc, nét tròn có đúng nghĩa đó không thì ta vẫn chưa biết.”
“Nhưng cả hai đều ghi Lạc Kê, điểm chín và bếp tắt,” Bảo nói.
“Đúng. Hai nguồn có thể liên quan.” Ông Từ đưa tay ngăn cậu khi cậu định nói tiếp. “Cũng có thể một người đã chép từ nguồn kia. Khi chưa biết ai viết trước, không nên coi là hai người cùng xác nhận.”
Bảo im lặng. Cậu không thích câu ấy, nhưng hiểu vì sao ông nói. Nếu một người báo có mưa, người thứ hai chỉ nghe rồi kể lại, vẫn chỉ có một người nhìn thấy mưa.
“Cháu muốn mang dòng này về hỏi người trong làng,” cậu nói.
Người giữ sổ nhìn Mộc. “Bản chép thì được. Ghi rõ đây là tin cũ chưa kiểm, đừng bỏ dấu ở lề.”
Mộc thêm mấy chữ dưới bản chép. Bảo đọc lại, thấy lão viết cả phần “chưa gặp người trực”. Cậu nhớ mái bắc, nơi ông Mạc Trì từng giữ lửa một mình. Ở đó, người đến sau có thể thấy bếp đang cháy mà không biết người nhóm lửa đã mệt đến mức nào. Ở Lạc Kê, người đưa tin thấy bếp tắt nhưng chưa gặp người trực. Hai chuyện không giống nhau, chỉ có cảm giác chờ đợi là giống.
Cậu hỏi người giữ sổ liệu có thể xem các điểm còn lại. Bà cân nhắc rồi lật lại vài trang. Mỗi mục đều có số và tên nơi gửi tin. Một vài tên trùng với những nơi Bảo đã nghe khi đối chiếu sơ đồ chín vòng; cũng có tên cậu chưa biết. Dòng số chín vẫn là Lạc Kê, nhưng cuốn sổ không có hình vẽ cái nồi, cũng không giải thích tại sao những nơi ấy được đánh số cùng nhau.
“Ta sẽ chép tên và số, nếu bà cho phép,” Mộc nói. “Không chép tên người gửi ở các nơi khác.”
Người giữ sổ đồng ý. Ông Từ giúp bà giữ trang phẳng, còn Bảo đọc từng số để Mộc khỏi sót. Đến số sáu, cậu đọc nhầm, lão gạch ngay nét vừa viết rồi chép lại bên cạnh. Bà giữ sổ nhìn nét gạch, bảo như thế tốt hơn cạo giấy; cạo đi sẽ không biết trước đó đã nhầm gì.
Lúc họ rời kho, nắng đã xiên qua sân. Mộc đưa Bảo bản chép có dòng tin cũ, còn mình giữ danh sách các điểm.
“Ta sẽ so lại danh sách này với bản chép chín vòng,” lão nói. “Ngươi giữ tờ kia, nhưng đừng để dính nước.”
“Em có thể cho Thanh Nghi xem không?”
“Được. Thanh Nghi cũng đã xem bản đồ.”
Bảo cất giấy vào trong áo. Cậu chạy về bếp, vừa kịp lúc Thanh Nghi nhấc nắp nồi. Hơi nóng phả lên mặt hai người. Cậu đưa bản chép cho nàng đọc, rồi tranh thủ lấy bát, xếp thành từng hàng.
Thanh Nghi xem xong, hỏi: “Cậu định đi ngay vì dòng này?”
“Em muốn về từ trước rồi. Bây giờ càng muốn biết.” Bảo múc cơm, cố chia đều. “Nhưng tin cũ như vậy, em không biết về đến nơi sẽ thấy gì.”
“Không biết thì đừng tự dọa mình trước.” Nàng đẩy một cái bát gần cuối hàng lên. “Bát ấy ít hơn.”
Bảo thêm một vá nhỏ. Cậu nhìn những bát cơm, rồi nhớ tới mục số chín trong sổ. Một con số có thể đưa người ta đi tìm đúng một nơi, nhưng không nói được ở nơi đó còn bao nhiêu người đang chờ ăn.
Sau bữa, cậu mang phần cơm của mình ra sân. Thanh Nghi cho thêm ít rau, bảo trong nồi còn, không cần để dành. Bảo ăn hết, rồi lấy mảnh giấy ra đọc lần nữa dưới ánh chiều. Góc giấy đã hơi mềm vì cậu cất trong áo.
Cậu tìm một miếng vải sạch bọc giấy lại. Khi gấp mép vải, cậu thấy ở phía sau bản chép còn một nét mực nhỏ: Mộc đã đánh dấu nơi người giữ sổ đọc không chắc tên người đưa tin. Cậu không biết cái tên ấy, nhưng vẫn nhìn khoảng trống hồi lâu.
Ngoài sân chuồng, Ô Kê cất tiếng kêu. Bảo cất bản chép vào túi, đi tìm nó. Trên nền đất, chiếc lồng tre vẫn mở cửa; cái bát thóc nằm bên trong đã vơi đi một nửa.