Chương 141: Bản Chép Bên Cạnh
Người nhận chuyển lời trở về vào gần trưa.
Tạ Tiểu Bảo đang ngồi dưới mái hiên nhà ăn, dùng đầu đũa gắp nốt mấy cọng rau trong bát. Hắn nhìn thấy người ấy từ xa, vội đặt đũa xuống, rồi lại cầm lên ăn hết trước khi đứng dậy.
“Con chào thúc. Thúc có gặp sư phụ con không?”
“Có. Mộc tiên sinh bảo ngày mai xuống chỗ ngươi. Ngươi cứ giữ giấy ở đó, đừng đi lên núi.”
“Người nói ngày mai ạ?”
“Ừ. Lúc trời còn sáng.”
Bảo nhẩm lại đúng câu ấy, không tự thêm giờ. Hắn cảm ơn người chuyển lời. Người ấy còn có việc ở kho, khoát tay bảo chỉ thuận đường, rồi tiếp tục đi. Bảo nhìn theo đến khi ông khuất sau cửa, mới quay lại mang bát trả.
Ngày mai thầy xuống. Hôm nay hắn có thể chuẩn bị bàn.
Bàn trong phòng không lớn, đặt hai tờ giấy cạnh nhau thì mép gần chạm tới chén nước. Bảo dời chén sang đầu hòm, lau mặt bàn bằng giẻ đã vắt khô. Hắn lau cả vệt than cũ ở góc, nhưng lau mãi vẫn còn một chấm xám. Hắn ngắm nó, thử chà thêm một lượt, rồi thôi. Thầy từng thấy chữ của hắn; một chấm than chắc không làm người ngạc nhiên.
Hai bản sao được đặt trở lại trong nếp bọc. Bản chép riêng từ trước, hắn kẹp vào bên ngoài để khỏi nhầm với hai tờ đã được Hứa Đồng đối tại bàn. Khi lấy giấy ra, hắn nhận thấy một góc gấp hơi quăn. Hắn vuốt bằng cạnh bàn tay, không lấy nước làm phẳng vì sợ nhòe nét than.
Ngoài cửa, có tiếng Ô Kê kêu từ khu nuôi. Bảo không nhìn thấy nó từ phòng, cũng không chắc tiếng ấy có phải của nó. Hắn ra xem, vừa đi vừa tính xem cái nồi còn ở chỗ gửi bao lâu nữa. Thầy đã nói phải chờ hắn nghỉ đủ, tính một chuyến đàng hoàng. Hắn sờ đầu gối qua ống quần: đi quãng ngắn đã dễ hơn, nhưng lúc bước xuống bậc vẫn phải chậm.
Người coi khu nuôi đang thay nước cho ô bên cạnh. Ô Kê đứng ở chỗ khô, thấy Bảo đến thì bước ra rào. Máng của nó còn một ít kê.
“Hôm nay ngươi không bới nữa?” hắn hỏi.
Con gà nhìn hắn, rồi cúi xuống mổ vào chiếc lá.
Người coi nói buổi sáng đã kiểm cái hõm hôm qua, chỗ ấy không sâu thêm. Bảo bảo mình sẽ để ý tiếp. Hắn thay nước, hỏi mượn chổi nhỏ quét phần kê rơi ngoài rào, nhưng người coi chỉ cho hắn chỗ đổ riêng: kê lẫn đất không được đổ trở lại máng. Bảo quét được một nhúm, nhìn thấy vài hạt còn nguyên mà tiếc. Hắn không bỏ vào máng, đành để theo chỗ đã được chỉ.
“Ngươi nhìn mãi, nó cũng không sạch hơn,” người coi nói.
“Con đang tính xem lần sau đổ ít hơn có đủ không.”
“Ngươi có thể chia làm hai lượt. Nhưng phải nhớ cho lượt sau.”
Bảo gật đầu. Hắn lấy đầu than ghi vào mặt sau mảnh giấy vụn: kê, hai lượt. Hắn không ghi vào tờ giấy có ngày công, vì mặt ấy đã gần kín.
Buổi chiều hắn tới y vụ hỏi thăm Thanh Nghi. Người trực nhận ra hắn, xem danh sách rồi nói nàng có thể gặp một lát. Lần này Bảo không mang đồ ăn; hắn chỉ cầm theo lời nhắn của mình.
Thanh Nghi đang ngồi cạnh cửa sổ. Trên bàn trước mặt nàng có một chén nước và một mảnh vải gấp. Bảo ngồi xuống chiếc ghế đã được đặt sẵn, kể ngày mai thầy sẽ tới xem những bản chép.
“Ngươi đã đối lại chưa?” nàng hỏi.
“Ta đặt cạnh nhau. Nhưng ta chưa biết phải tìm gì.”
“Vậy trước hết xem những chỗ ngươi đã ghi là không rõ.”
Bảo kể về khoảng sứt giữa hai nét cong và nét xiên rời. Nàng nghe rồi hỏi hắn thấy chúng khi đứng hay khi ngồi. Hắn nhớ lại: lúc nghỉ giữa lượt chuyển cáng, đèn thấp, hắn đã nhìn từ phía gần chân cửa. Nhưng hắn không nhớ mình có đổi chỗ trong lúc vẽ không.
“Ngươi đã ghi chuyện ánh đèn,” Thanh Nghi nói. “Còn chuyện đổi chỗ thì đừng đoán.”
“Ta cũng định thế.”
“Ngươi vừa định nói là mình không đổi chỗ.”
Bảo mở miệng, rồi ngậm lại.
“Ta định hỏi xem nàng có nhớ không.”
“Lúc ấy ta không nhìn chỗ đó.” Nàng đặt bàn tay lên mảnh vải. “Ta nhớ có cửa và chỗ hạ cáng. Phần nét khắc là ngươi nhìn.”
Hắn gật. Câu trả lời không làm tờ giấy đầy thêm, nhưng hắn thấy dễ mang nó đi gặp thầy hơn. Họ nói thêm về việc nàng đang tập ngồi lâu và chờ y vụ xem lại trước khi tăng vận động. Bảo không hỏi khi nào nàng có thể cầm kiếm; nàng tự nhắc tới, nói hiện giờ còn phải nghe người phụ trách điều trị.
“Ngươi thì sao?” nàng hỏi. “Đã biết ngồi yên chưa?”
“Ta ngồi vá bao.”
“Ngươi biết vá?”
“Ta giữ bao.”
Thanh Nghi nhìn hắn. “Vậy lần sau nói cho đúng.”
“Ta ngồi giữ bao cho người khác vá.”
“Được.”
Khi hắn đứng dậy, nàng nhắc: “Ngày mai nhớ hỏi thầy ngươi được phép đối phần nào. Bản của ngươi giữ, còn sổ công việc đã nộp.”
“Hứa quản sự bảo phần được sao có thể giữ để đối với thầy. Ta sẽ hỏi thêm trước khi đem cho người khác xem.”
Nàng gật đầu. Bảo ra ngoài, khép cửa theo lời người trực, rồi về phòng nghỉ chân. Chiều đó không có ca làm, hắn lấy một đồng mua thêm bánh ở nhà ăn. Ăn xong vẫn chưa no, nhưng hắn nhớ ngày hỏi công còn chưa tới. Hắn đếm lại số tiền mình đang có, tách đồng còn lại khỏi mảnh giấy gói bánh, rồi cất vào túi.
Sáng hôm sau, Bảo dậy sớm hơn thường lệ. Hắn không xếp giấy ra bàn ngay. Trước hết hắn tới khu nuôi, cho Ô Kê một lượt kê, thay nước rồi trở về ăn sáng. Cháo hôm ấy đặc hơn hôm trước; hắn ăn hết, không mua thêm. Khi về phòng, hắn mở cửa cho thoáng và đặt hai chiếc ghế ở hai phía bàn.
Mộc Vô Nhai tới lúc nắng đã qua mép sân.
Gấu áo ông vướng một chiếc lá khô. Bảo định nhặt giúp, Mộc đã cúi xuống tự lấy ra, đặt nó lên bậc cửa. Ông hỏi đầu gối hắn thế nào. Bảo kể đã quay lại y vụ, nói rõ điều Dư An dặn và cả việc hắn đã đổi sang giữ bao cho người vá.
“Con giữ được mấy cái?” Mộc hỏi.
“Sáu cái. Bốn cái hôm trước, hai cái hôm sau.”
“Có phải cả sáu đều do con giữ không?”
Bảo nghĩ lại. “Không. Có lúc người vá đặt xuống bàn. Con chỉ giữ những đoạn ông ấy nhờ.”
“Ừ.” Mộc kéo ghế ngồi. “Giấy đâu?”
Bảo lấy từng tờ ra. Hắn nói rõ hai tờ nào được sao lại ở chỗ Hứa Đồng, tờ nào là bản chép riêng từ trước. Mộc nghe rồi đặt tờ có dáng tượng sang một bên, để hai bản còn lại cạnh nhau dưới ánh sáng.
Ông không chạm ngay vào nét than. Ông hỏi Bảo đã ghi bản nào trước, bản nào sau; khi sao lại có nhìn sổ gốc không; ánh sáng lúc hắn nhìn dấu dưới đất ra sao. Bảo trả lời được hai câu đầu. Câu cuối hắn nói đèn thấp, nhưng không dám khẳng định mình có đổi chỗ đứng hay không.
Mộc nhìn hắn một cái. “Không nhớ thì để vậy.”
Hai thầy trò bắt đầu từ vị trí. Trên bản sao mới, Bảo đã thêm chữ “bên” theo lời Hứa Đồng: bên trái cửa hẹp, ở chân cửa. Bản chép riêng cũ ghi ngắn hơn. Bảo chỉ vào đó, giải thích vì sao hôm nộp sổ phải thêm chữ.
“Đây là cùng một chỗ con định ghi,” hắn nói. “Nhưng người khác đọc bản cũ có thể hiểu sang cửa bên trái.”
Mộc đặt một ngón tay lên mép giấy, không đè vào chữ. “Con còn nhớ tại sao mình ghi ngắn như vậy không?”
“Lúc ấy con nghĩ mình sẽ nhớ.”
“Bây giờ nhớ không?”
“Nhớ chỗ hạ cáng. Còn từng nét thì phải nhìn giấy.”
Ông gật. Bảo thấy thầy không cười, bèn lấy thêm tờ giấy vụn ghi cạnh bản cũ: cách viết có thể gây hiểu nhầm, đối với bản sao mới để biết vị trí. Hắn không sửa đè lên bản đã chép trước.
Đến nét xiên, Mộc hỏi: “Con vẽ nó rời vì đá sứt, hay vì vốn đã rời?”
Bảo nhìn thật lâu. Trong bản sao mới, khoảng giữa nét xiên và nét cong còn một vùng trắng. Trên bản chép cũ cũng có khoảng trắng, nhưng nét xiên được đặt gần hơn.
“Con không biết có nối ở chỗ đó không. Con nhìn thấy nó rời.”
“Vậy hai bản này khác nhau ở khoảng cách.”
“Con chép sai sao?”
“Ta chưa thấy dấu thật. Ta cũng không có sổ gốc ở đây. Ta chỉ thấy hai tờ không đặt nét ở cùng một khoảng.”
Bảo cúi sát xuống. Quả thật, bản cũ cách ít hơn. Hắn đã quen nhìn từng tờ một, chưa từng để hai nét cạnh nhau như thế. Hắn đưa tay định kéo một tờ sát lại cho bằng, rồi nhận ra làm thế cũng chẳng thay đổi được khoảng cách trên giấy.
“Con nên sửa tờ nào?”
“Trước hết ghi rằng chúng khác nhau. Sau đó hỏi Hứa Đồng xem có thể đối với sổ gốc ở đâu, theo cách nào.”
“Bản mới đã đối với sổ rồi.”
“Đúng. Nhưng hôm ấy con không nói đến khoảng cách trong bản riêng cũ, phải không?”
Bảo lắc đầu. Hôm ấy hắn bận làm cho đúng phần được phép sao, lại lo chữ “cửa trái” khiến người khác hiểu sai. Hắn chưa đặt tờ riêng cũ lên bàn.
Mộc lấy đầu than khác, gõ nhẹ vào khoảng giấy bên ngoài hình vẽ. “Đừng sửa nét nào hôm nay. Viết một dòng bên cạnh hai bản: chỗ nào khác, và con chưa biết bản nào giữ khoảng cách đúng hơn. Giữ cả hai.”
Bảo làm theo. Chữ hắn hơi chật vì tờ giấy vụn nhỏ. Mộc kéo tờ lớn hơn từ tập giấy trên bàn, bảo ghi trên đó rồi kẹp cùng các bản. Bảo ngần ngừ: giấy mới còn sạch, mà dòng ghi này chỉ có mấy chữ.
“Còn chỗ để ghi kết quả đối sau,” thầy nói.
Bảo bèn viết. Hắn để một khoảng rộng dưới câu vừa ghi, rồi đặt than xuống. Mộc không nói những nét ấy có nghĩa gì. Ông chỉ xem tờ ghi chú, hỏi lại Bảo đã hiểu việc cần làm chưa.
“Con hỏi Hứa quản sự xem có thể mang bản cũ tới đối sổ gốc không. Nếu chưa được thì chờ.”
“Còn nếu được?”
“Con chỉ đúng chỗ khác. Không tự chép thêm phần con không nhìn thấy.”
Mộc gật đầu. Ngoài sân có tiếng người gọi nhau chuyển đồ. Bảo nhìn nắng trên mép bàn, chợt nhớ thầy vừa đi một quãng đường. Hắn hỏi thầy đã ăn chưa.
“Ăn rồi.”
“Có cần uống nước không?”
“Có.”
Bảo rót nước. Lúc đưa chén, hắn cẩn thận giữ tay áo khỏi chạm vào nét than. Hai thầy trò uống xong mới xếp giấy. Tờ ghi chú mới được đặt giữa bản chép cũ và hai tờ đã sao ở chỗ Hứa Đồng.
Mộc về trước khi trời tối. Bảo đưa thầy tới cửa, nhặt chiếc lá trên bậc bỏ ra sân, rồi quay vào gạch dòng nhờ chuyển lời. Dòng mới về việc xin đối sổ được viết ngay phía dưới, cạnh lời hẹn hỏi ngày công.
Trên bàn còn tờ giấy rộng, nửa dưới vẫn để trống.