Chương 156: Cái Thùng Không Biết Nói
Sáng hôm sau, Tạ Tiểu Bảo vừa đưa tay vào túi đã nhận ra mình còn đúng ba đồng.
Hắn đổ chúng ra mặt bàn, xếp thành một hàng. Một đồng mua bánh hôm qua, một đồng mua bánh buổi tối; phần công chuyển lời vẫn nằm trên bảng, chưa nằm trong túi. Đếm xong, hắn lại đẩy ba đồng vào túi, rồi lấy một đồng ra mua bánh ăn với bát cháo sáng.
Lâm Hổ ngồi đối diện, nhìn cái bánh bị bẻ làm đôi.
“Ngươi có ba đồng?”
“Bây giờ còn hai.”
“Ta không hỏi để mượn.”
“Ta cũng không nói ngươi mượn. Ta nói để ngươi biết nếu hỏi thêm thì chỉ còn hai.”
Hổ uống một ngụm cháo, đặt bát xuống. “Hôm nay ta tới sân luyện. Ngươi đi không?”
“Ta tới kho trước. Cái thùng hôm qua vẫn chưa về.”
“Ngươi định hỏi nó vì sao rò?”
“Ta định hỏi người mang nó về.”
“Vậy tốt. Ta còn tưởng ngươi định ngồi trước thùng chờ nó trả lời.”
Bảo nhìn bạn một lúc, bẻ nửa chiếc bánh thành hai phần nữa. “Nếu nó nói được, ta sẽ hỏi luôn có biết kiếm tiền không.”
Ăn xong, hắn tới khu nuôi. Ô Kê đang mổ những hạt kê còn sót bên mép máng. Bảo kiểm chốt, thay nước và thêm phần kê sáng. Con gà đưa đầu tới gần túi áo hắn, bị hắn dùng mu bàn tay chặn lại.
“Không có bánh. Hôm nay ta ăn hết rồi.”
Ô Kê mổ tay hắn một cái. Bảo rút tay, nhìn vết đỏ rồi nhìn con gà. “Ngươi cũng chỉ hỏi thôi?”
Con gà quay đi. Hắn buộc lại miệng túi kê, để lên kệ ngoài tầm mỏ rồi mới rời khu nuôi.
Ở sân kho, chiếc thùng rò đã được đặt nằm nghiêng trên hai thanh gỗ. Dưới đáy có một vệt sẫm kéo từ mép thùng xuống. Người coi kho đang dùng khăn lau phần gỗ quanh đó; cạnh ông là người đánh xe hôm qua.
“Thùng về từ lúc nào?” Bảo hỏi.
“Cuối tối. Người ở điểm giao gửi theo chuyến trở về,” người coi kho đáp.
“Có biết vì sao rò không?”
“Ta đang xem. Ngươi tránh đầu kia, đừng để nó lăn.”
Bảo lùi lại. Trên một thanh đai có dấu trầy, còn giữa hai miếng gỗ đáy là một khe rất hẹp. Người coi kho đặt thùng đứng lên, múc nước từ chiếc chậu gần đó rót vào một ít. Bảo định hỏi sao không rót đầy, nhưng ông đã bảo người đánh xe đánh dấu mực nước phía trong trước.
Họ chờ. Một giọt hiện ra chậm chạp ở gần đáy, rồi trượt xuống, để lại một đường ướt nhỏ.
“Ở đây,” Bảo nói.
“Ta thấy.” Người coi kho cúi xuống. “Đánh dấu cho ta.”
Bảo không có bút. Người đánh xe đưa một mẩu than, chỉ cho hắn đánh dấu lên thanh gỗ kê cạnh chỗ ướt, không vẽ lên vỏ thùng đang cần xem. Hắn làm theo, rồi trả than.
Người coi kho đặt tay lên đai, thử độ chặt. Ông không khẳng định nó lỏng hay chặt khi đi trên đường, chỉ nói hiện giờ có thể xoay nhẹ. Dấu trầy có từ lúc nào, người đánh xe không nhớ. Hai người cùng lật lại phiếu kiểm trước chuyến, nhưng trên đó chỉ ghi đã xem dây và nắp, không ghi tình trạng từng thanh đai.
“Vậy là đai gây rò?” Bảo hỏi.
“Có thể. Cũng có thể gỗ đã có khe, đường xóc làm nước ra nhiều hơn. Ta chưa biết khi đi nó thế nào.”
Ông mang thùng tới cho thợ xem, nhờ Bảo giữ tờ phiếu khỏi bay trong lúc người đánh xe kê lại thanh gỗ. Bảo giữ bằng hai ngón tay, mắt vẫn nhìn dòng kiểm dây và nắp.
“Phiếu không có chỗ ghi đai.”
“Có chỗ ghi thêm ở cuối.”
“Nhưng hôm qua không ghi.”
“Ừ.” Người coi kho nhận lại tờ giấy. “Ta sẽ ghi điều đã thấy hôm nay và giờ thùng về. Không viết thành điều đã thấy hôm qua.”
Bảo đi theo ông tới chỗ thợ, không phải để giám sát mà vì ông nhờ hắn mang mẩu than và tờ phiếu. Người thợ gõ nhẹ quanh đáy, xem đai rồi xin giữ thùng để kiểm tiếp. Ông hỏi có thùng khác dùng cho chuyến kế không. Người coi kho đáp có, đã chọn riêng; chiếc này sẽ không đưa đi trước khi sửa và thử lại.
Bảo muốn hỏi bao giờ xong, nhưng người thợ đang tháo thanh đai. Hắn đặt mẩu than cạnh phiếu, hỏi người coi kho mình đã hết việc chưa. Ông gật đầu, hẹn chiều tới nhận xác nhận vào bảng ca cho lượt mang lời hôm qua.
Trên đường qua sân, Bảo gặp Mộc Vô Nhai. Lão đang cầm một túi vải, bước chậm về phía nhà mình. Bảo chào, rồi hỏi lão có vội không.
“Vội thì sao?”
“Con đi cùng một đoạn. Không vội thì con hỏi thêm.”
“Ngươi đã hỏi rồi.”
“Câu kia không tính.”
Mộc liếc hắn, đổi túi sang tay bên kia. Bảo nhận ra phần dây buộc đã sờn. Hắn muốn đưa tay đỡ, nhưng nhớ lão không thích người khác tự ý chạm vào đồ, bèn hỏi trước. Mộc đưa túi cho hắn, dặn đừng nghiêng vì bên trong có bát.
Họ đi dưới bóng hiên. Bảo kể về thùng nước, từ việc người ở điểm giao báo rò, tới lúc thùng về và giọt nước vừa xuất hiện. Hắn kể cả chuyện phiếu chỉ ghi dây và nắp, không ghi thanh đai.
“Người coi kho bảo chưa biết nguyên nhân,” hắn nói.
“Ngươi muốn biết để làm gì?” Mộc hỏi.
“Để chuyến sau không mất nước.”
“Biết một cái thùng hỏng, ngươi giữ được nước trong tất cả các thùng?”
“Không. Nhưng biết chỗ phải xem.”
“Biết thêm một chỗ.”
Bảo ngẫm nghĩ. “Đáy, đai, nắp, dây. Còn phải xem đường đi.”
“Đường dài bao nhiêu?”
“Con không biết.”
“Xe xóc ở đâu?”
“Con không đi cùng.”
“Vậy đừng lấy miệng mình lấp chỗ trống trong giấy của người khác.”
Bảo cúi nhìn túi vải. “Con có thể hỏi người đi cùng.”
“Có thể. Hỏi để biết việc của mình, hay hỏi rồi nhận luôn việc của họ?”
“Con chưa nhận việc kiểm thùng.”
“Vậy cứ nhớ điều ấy.”
Tới cửa nhà, Mộc nhận túi, kiểm bát bên trong rồi đặt lên bàn. Lão lấy hai chiếc chén sứ, một chiếc lớn, một chiếc nhỏ, rót nước vào chén nhỏ và đẩy tới trước mặt Bảo.
“Uống đi.”
Bảo uống một hơi, đặt chén xuống. Mộc lại rót, lần này vào chén lớn, nước chỉ tới lưng chén.
“Hai chén này, chén nào nhiều?”
Bảo nhìn. “Con chưa đo.”
“Thử đi.”
Hắn rót nước từ chén lớn sang chén nhỏ. Nước đầy chén nhỏ mà trong chén lớn vẫn còn một ít. Bảo chưa kịp nói, Mộc đã đưa thêm một cái đĩa mẻ.
“Giả sử ngươi phải mang phần nước đó qua sân, chén nhỏ đầy sát miệng. Ngươi chọn cái nào?”
“Chén lớn.”
“Vì?”
“Đi khỏi đổ.”
Mộc gật đầu. “Chỗ trống ấy có phải nước không?”
“Không.”
“Có cần không?”
Bảo nhìn mặt nước. Hôm trước hắn đã tính cả phần dự phòng, nhưng cái khoảng không trên miệng chén thì chưa tính. Hắn lấy chén nhỏ, rót bớt nước vào đĩa cho khỏi tràn rồi thử bước vài bước. Nước sóng sánh, nhưng chưa ra ngoài.
“Đi nhanh thì có thể đổ,” hắn nói.
“Ngươi có thể đi chậm hơn. Nếu trời mưa, đường trơn, người cần nước lại đang chờ thì sao?”
“Con tìm đồ có nắp.”
“Rồi nắp rò?”
“Con kiểm nắp.”
“Rồi đáy rò?”
Bảo đặt chén xuống. “Mộc lão, người có thể nói trước cái gì rò không?”
“Ta đang ngồi đây. Ta biết bằng cách nào?”
Lão đẩy chiếc đĩa mẻ lại. Một ít nước đã tràn qua vết sứt. Bảo nhìn nó, rồi dùng khăn lau mặt bàn. Mộc không giữ hắn lại sau đó. Trước khi đi, Bảo hỏi có thể mượn mẩu giấy cũ để ghi một việc không. Lão xé phần lưng còn trắng của tờ giấy, đưa cho hắn.
Bảo viết: *Lượng cần dùng; đồ chứa; phần có thể mất*. Viết xong, hắn dừng bút. Nếu biết được chắc chắn sẽ mất bao nhiêu thì hắn đã không phải ngồi đo hai chiếc chén. Hắn gạch chữ *có thể mất*, thay bằng *phần dự phòng*, rồi ghi nhỏ bên cạnh: *phải hỏi người tính chuyến*.
Mộc nhìn qua vai hắn. “Ai dùng tờ này?”
“Con.”
“Vậy ngươi hiểu là được. Nếu đưa cho người khác, phải nói rõ đơn vị.”
“Và ai điền.”
“Ừ.”
Buổi trưa, Bảo ăn cơm ở nhà ăn, có canh rau và một miếng đậu. Hắn để dành hai đồng còn lại. Hổ tới muộn, cánh tay áo dính bụi sân luyện, ngồi xuống kể mình bị người cùng luyện chê bước chân quá nặng.
“Ngươi đánh đau người ta?” Bảo hỏi.
“Ta giẫm lên vạch người ta vừa kẻ.”
“Vạch có đau không?”
“Hắn đau lòng vì phải kẻ lại.”
Bảo đưa mẩu giấy cho Hổ xem. Hổ đọc ba dòng, hỏi phần dự phòng có phải đem theo nhiều hơn mức cần không. Bảo đáp có thể, nhưng còn phải xem nơi đó đã có sẵn gì và ai chịu trách nhiệm giữ. Hắn kể chuyện chén nước, không kể như thể mình đã tự nghĩ ra.
“Vậy khi nào ngươi được đi đưa nước?” Hổ hỏi.
“Chưa ai bảo ta đi.”
“Ta thấy ngươi nói từ sáng tới giờ, tưởng xe đang đợi.”
Bảo cầm bát canh lên uống. “Nếu xe đợi, ta còn đang ăn.”
Chiều, hắn tới bảng ca. Người tiếp vận đã ghi lượt chuyển lời vào tên hắn; bên cạnh là ký hiệu để người phụ trách đối cuối kỳ. Bảo hỏi người ấy có cần hắn ký ngay không. Ông nói chưa, tới lúc đối công sẽ gọi. Hắn ghi nhớ, không coi dòng chữ ấy là tiền đã nhận.
Người coi kho vừa từ chỗ thợ về. Thợ tìm thấy khe ở đáy và sẽ chỉnh lại đai, nhưng chưa thể nói khe xuất hiện trước hay sau chuyến đi. Bảo hỏi có thể xem phiếu khi ông ghi xong không. Người coi kho đồng ý, chỉ vào hai dòng: một dòng là lời người ở điểm giao báo, một dòng là điều họ vừa quan sát tại kho. Giữa hai dòng có ghi giờ.
“Người ở điểm giao có biết nước bắt đầu chảy từ đâu không?” Bảo hỏi.
“Ta sẽ hỏi lúc đối chuyến. Nếu họ không biết, ta ghi không biết.”
Bảo gật đầu. Hắn nhớ tới cuốn sổ Hứa Đồng từng kẻ thêm cột, rồi hỏi người tiếp vận liệu ở điểm giao có bảng nào ghi lượng nước nhận và còn lại không.
“Có phiếu bàn giao. Còn bảng treo tại chỗ thì ta chưa xem.”
“Nếu họ cần, con có thể giúp kẻ một cái.”
“Được. Để ta hỏi người trực ở đó trước. Họ biết chỗ treo có tiện và có ai cập nhật hay không.”
Bảo không vội vẽ. Hắn gấp mẩu giấy của Mộc, nhét vào túi cùng hai đồng tiền. Khi đi qua khu nuôi, Ô Kê đang đứng bên máng; hắn kiểm nước và chốt như mọi ngày, sau đó về phòng.
Chiếc nồi vẫn nằm trong lớp vải trên bàn. Bảo đặt mẩu giấy cạnh nó, dùng một đồng chặn mép giấy khỏi cuốn, rồi cất đồng còn lại vào túi.