Chương 319: Đến Chỗ Cột Đá
Trời vừa sáng, người con trai của ông chủ nhà đã trở về từ ruộng.
Anh mang theo đôi dép dính bùn và một bó cỏ nhỏ. Thấy Tạ Tiểu Bảo đang rửa mặt ngoài sân, anh đặt bó cỏ cạnh Xám, nói việc ở ruộng đã thu xếp xong, có thể dẫn nhóm tới cột đá như đã bàn. Con la ngửi bó cỏ, ngước nhìn anh, rồi cúi ăn.
“Anh để dành cho nó à?” Bảo hỏi.
“Ta cắt thừa lúc đi qua bờ ruộng. Đoạn sau không có nhiều cỏ ven đường.” Anh chỉ góc mái. “Đừng cho nó ăn hết trước khi đi.”
Hổ tách một phần để trong túi, cảm ơn. Hai người kiểm lại tải: nồi đen nằm giữa sọt, nắp gói riêng, lồng Ô Kê đặt phía trên nơi có thể nhìn thấy. Thanh Nghi giữ chiếc lệnh cùng giấy; Bảo đặt hai bản chép đường trong bìa, buộc vào trong áo. Dư An mang thuốc và bình nước, hỏi đầu gối hắn thế nào sau chuyến hôm qua.
“Đi từ giếng ra sân không căng ạ.”
“Đường tới cột đá không phẳng như sân. Nếu thấy khác, nói ngay.”
Bảo gật đầu, bế Ô Kê vào lồng. Con gà nhìn bó cỏ Xám vừa ăn, mổ thử một cọng rồi bỏ. Hắn đặt ít thóc vào bát trong lồng, buộc thêm một vòng dây như đã làm từ trạm nghỉ.
Ông chủ nhà mang ra mấy cái bánh nhỏ, nói phần này đã tính cùng bữa sáng nhóm nhờ nấu. Bảo kiểm số tiền rồi trả, không để ông phải gọi lại. Anh con trai nhận phần công dẫn đường tới cột đá theo thỏa thuận hôm trước, nhưng chỉ nhận trước một nửa; tới nơi sẽ nhận phần còn lại nếu đi được như hẹn.
Trước khi đi, An chạy từ nhà bên sang, đưa Ô Kê một nắm thóc nhỏ trong tờ lá. Bảo hỏi cô bé có cần giữ lại cho gà nhà không. An nói đã xin mẹ, chỉ lấy ít thôi. Hắn nhận, gói riêng để chiều cho ăn; con gà vươn cổ theo gói thóc, làm chiếc lồng lắc nhẹ.
“Đến nơi có giếng, anh đừng cho nó uống hết nước nhé,” An dặn.
“Anh sẽ hỏi giếng có đủ cho người trước.”
Cô bé cười, chạy về khi mẹ gọi. Bảo nhìn theo, rồi nghe ông chủ nhà nhắc lối ra phía sau sân. Họ chào ông, lên đường khi mặt trời chưa chạm tới vạt đất cao.
Anh dẫn đường đi trước, mang gậy và một bình nước. Lối men sườn ban đầu rộng, đất còn dấu chân người đi ruộng. Sau đó đường lên dốc, một bên là bụi cây thấp, bên kia nhìn xuống những mái nhà trong xóm. Bảo ngoái lại, thấy mái nhà họ vừa nghỉ nhỏ dần giữa hai hàng cây. Hắn không còn nhìn rõ An hay cái giếng cạnh hàng rào.
Đến một chỗ có nước rỉ qua mặt đường, anh dẫn đường dừng lại. Nước chảy từ khe đá trên sườn, không sâu, nhưng lớp đất bên dưới nhão. Hổ kiểm tải rồi dẫn Xám men theo nền đá phía trong. Thanh Nghi giữ khoảng cách đủ xa để nếu la lùi, nàng không đứng chắn. Bảo mang lồng Ô Kê tới sau, nhận lại khi con la đã qua chỗ ướt.
Một hòn đá nhỏ bị móng la đẩy lệch. Hắn cúi định đặt lại, anh dẫn đường nói nên để hòn ấy sang bên vì mặt nó tròn, người đi sau dễ giẫm trượt. Hai người chuyển đá vào sát bụi. Bảo ghi trong sổ: chỗ nước rỉ cách mái nhà khoảng một quãng đi, không cố đổi quãng ấy thành số dặm khi chưa đo.
Anh dẫn đường tên Trực. Anh nói lúc giao muối mấy tuần trước, mình đi một mình theo lối này đến giếng. Con la anh từng thấy do người khác dắt, tải là mấy bó hàng nhỏ. Hổ hỏi đường tiếp theo có chỗ hẹp hơn chỗ nước rỉ không. Anh đáp có đoạn qua mỏm đá, người dắt phải đi sát phía trong; anh chưa thấy một con la mang nồi và lồng gà qua đó.
Bảo nhìn phần tải của Xám, hỏi có thể tháo lồng trước khi tới mỏm đá không. Hổ bảo được, tới nơi sẽ xem. Hắn đặt tay lên dây lồng, không tháo giữa dốc vì chưa có chỗ đứng.
Họ dừng nghỉ dưới một cây có bóng rộng. Trực nói từ đây có thể nhìn thấy lối lên mỏm đá nếu trời quang. Thanh Nghi và Bảo cùng mở bản chép lão Kỷ. Trực chỉ hướng sườn núi, nhận ra nét cong gần một dấu nước, nhưng tờ giấy không ghi tên nhà dưới sườn hay cột đá. Nàng đặt bản chép cạnh sơ đồ anh vẽ hôm qua, so các hướng chắc chắn thay vì ép hai hình trùng nhau.
“Lão Kỷ vẽ con đường đi đâu?” Trực hỏi.
“Lão vẽ cho cháu một tấm đường,” Bảo đáp. “Cháu từng dùng để tính đường sau khi rời làng. Giờ chỉ có bản chép, còn chỗ này phải xem với đường thật.”
Trực nhìn chiếc lồng. “Trên giấy có vẽ con gà không?”
“Không.” Bảo thở dài. “Nếu vẽ, chắc nó đã mổ mất.”
Hổ chia bánh, Dư An kiểm bình nước. Ô Kê được cho uống một ít; nó mổ vào mép bát, làm nước sóng sánh nhưng không đổ. Bảo chờ nó uống xong rồi cất bát, tiếp tục mang lồng đến mỏm đá.
Đường qua mỏm đúng là hẹp. Một tảng đá nằm sát phía ngoài, để lại khoảng giữa nó và sườn núi. Trực dùng gậy thử nền, nói trước đây anh đi qua phía trong. Hôm nay có cành mới rơi ngang trên đất; Hổ nhấc cành đi, đặt lên nền rộng, còn Thanh Nghi đo khoảng hở bằng đoạn dây trong sổ.
Tải Xám rộng hơn thân nó. Họ tháo lồng gà và túi lương, để sọt nồi ở giữa lưng la vì phần ấy không nhô ra thêm bên ngoài hai quai. Hổ kiểm hai quai, Dư An giữ lồng, Thanh Nghi mang túi lương. Bảo cầm gậy đi trước tới chỗ bằng phía bên kia, chờ Hổ dẫn la.
Xám bước vào, dừng khi một quai sọt gần chạm vách. Hổ cho nó lùi lại. Trực chỉ một chỗ ở phía ngoài còn đủ nền chắc, nếu con la bước hơi lệch sang đó, quai có thể qua. Anh thử nền bằng chân, không dẫm vào mép đất rời. Hổ lại kiểm dây nồi rồi dẫn Xám theo vệt ấy.
Lần này quai sọt chỉ lướt gần vách, không mắc. Xám sang tới nơi Bảo đứng, khịt mũi và tìm cỏ. Hắn đưa một nắm nhỏ, kiểm lớp vải bọc nồi rồi phụ mang lồng và túi lương qua. Dư An đi cuối, nhắc mọi người nhìn lại đường để biết nếu phải quay về thì chỗ hẹp nằm ở đâu.
Bên kia mỏm đá, họ đi thêm một quãng thì thấy cột đá thấp. Nó đứng bên chỗ rẽ, một mặt có nét khắc đã mòn, mặt còn lại phủ rêu. Trực nói đây là nơi anh đã hẹn dẫn tới. Phía trước có hai lối: một men theo sườn, một đi xuống gần dòng nước.
“Cháu nhớ cột này không?” Thanh Nghi hỏi.
Bảo đi quanh cột, không chạm vào phần rêu ướt. Hắn nhớ từng thấy đá bên đường khi rời làng, nhưng không nhớ rõ nét khắc. Hắn nói có cảm giác quen, rồi chỉ vệt nước bên dưới: “Cháu nhớ đường có nước chảy gần. Nhưng từ đây hai lối đều nghe tiếng nước.”
Trực vẽ lên sổ vị trí hai lối theo mắt mình nhìn, nói lần trước anh đi men sườn tới giếng. Lối xuống nước anh chỉ đi một đoạn tìm chỗ nghỉ, không biết nó dẫn tới đâu. Bảo hỏi phía men sườn có chỗ cho Xám không. Anh đáp có một bãi đất nhỏ trước khi vào đoạn hẹp; từ đó đến giếng, lần trước anh đi bộ không gặp cây chắn, còn sau mưa thì phải nhìn lại.
Hổ trả phần công còn lại. Trực đếm, nhận đủ, rồi nói cần về ruộng trước chiều. Thanh Nghi hỏi nếu nhóm cần gửi lời về nhà anh thì có ai chuyển được không. Anh chỉ nhà người gánh nấm thường ghé ở ngã ba; nếu đi ngược có thể để tin tại đó. Anh không nhận mang thư vào làng vì hôm nay chỉ quay lại phía nhà mình.
Trước khi đi, anh nhìn cột đá và hỏi Bảo có định đánh dấu đường không. Hắn lấy một mảnh giấy, viết “nhóm đi theo lối men sườn ngày hôm nay” và tên mình. Thanh Nghi bảo giấy để ngoài mưa sẽ hỏng, cũng có thể làm người khác tưởng lối ấy chắc chắn tới làng. Hắn gấp lại, giữ trong sổ; nếu cần để lời, họ sẽ tìm nơi nhận cụ thể thay vì buộc lên cột.
Trực chào mọi người, đi ngược về mái nhà thấp. Bảo nhìn theo cho tới khi anh khuất sau mỏm đá, rồi quay về hai lối. Hắn mở bản chép lão Kỷ. Nét cong cạnh dấu nước có thể đi theo sườn, nhưng tờ giấy không cho biết tình trạng con đường trước mặt. Hắn đặt bút đánh dấu cột đá trên trang tự vẽ, nối nét liền từ nhà dưới sườn tới đây; đoạn tới giếng vẫn là nét theo lời Trực.
Hổ kiểm trời và lượng nước. Mặt trời còn cao, nhưng nhóm đã đi một quãng với tải. Dư An hỏi chân Bảo; hắn nói hơi mỏi ở đoạn dốc, không đau. Ông đề nghị nghỉ rồi đi thêm tới bãi đất Trực vừa nói. Nếu lối ở đó xấu hay trời đổi, cả nhóm sẽ chọn chỗ quay về hoặc nghỉ, không cố tới giếng bằng mọi giá.
Họ ăn bánh dưới bóng cây. Bảo lấy phần thóc An cho, chia một ít vào bát Ô Kê. Con gà mổ hết, rồi nghển đầu nhìn lối xuống nước. Xám đứng gần đó, đang ăn nốt cỏ Trực cắt. Hắn thấy hai con vật đều đã có phần của mình, mới lấy chiếc bánh cuối trong gói.
“Cháu muốn tới giếng hôm nay,” hắn nói.
Thanh Nghi ngồi cạnh, tay giữ bình nước. “Ta biết. Ta cũng muốn thấy đường trước khi trời tối.”
Nàng không hứa sẽ tới. Bảo ăn hết bánh, cất giấy và nhìn về phía lối men sườn. Hắn không biết bà Mạnh có đang ở nhà hay không, cũng không biết lá thư đã qua những người trung gian có được đọc. Nhưng cột đá trước mặt đã nối đường từ mái nhà thấp vào trang sổ của hắn; từ đây họ không cần trở lại ngã ba để đoán hướng đầu tiên nữa.
Nghỉ xong, Hổ nhấc lồng lên tải. Ô Kê kêu khi dây được buộc lại; Bảo kiểm cửa lồng, rồi đi cạnh Xám. Cả nhóm chọn lối men sườn mà Trực đã đi, để cột đá ở sau lưng và tiến về bãi đất trước đoạn đường hẹp.