Chương 449: Dòng Không Có Tên
Tín mang đèn tới khi mặt trời rời khỏi mép cửa.
Bảo giơ tay định nhận, Mộc bảo đặt đèn xa cuốn sổ một chút. Trang giấy đã ẩm, nếu vô ý làm đổ dầu thì phần chữ còn đọc được cũng mất. Tín kê đèn lên chiếc ghế nhỏ, lùi lại một bước rồi mới thở ra.
“Đệ cầm từ bếp tới đây không đổ giọt nào.”
“Giỏi,” Bảo nói. “Giờ giữ nguyên thành tích nhé.”
Mộc ngồi ngoài ngưỡng phòng giữ sổ. Trên bàn là cuốn sổ tìm được trong hộp buộc dây, còn chiếc chìa đã được bà Mạnh gói lại. Thanh Nghi lấy một tờ giấy khác chép các cột ở trang đang mở: nơi nhận, phần giao, người nhận. Dưới ba dòng có chữ là dòng thứ tư bỏ trống cột cuối.
“Người ghi có để lại số không?” Bảo hỏi.
“Có số ở cột phần giao.” Nàng chỉ vào nét mực còn rõ. “Nhưng không có tên ở cột người nhận.”
Mộc nghiêng người nhìn. “Đừng cộng dòng ấy vào phần đã giao.”
“Vì chưa có người nhận?”
“Vì ta chưa biết dấu bên cạnh số có nghĩa gì trong cuốn này.” Ông lấy bản cũ của mình, chỉ một dấu nhỏ như hạt gạo nằm sát một con số. “Trong sổ ta từng giữ, dấu ấy nghĩa là phần còn chờ đối, không phải đã giao. Người viết sau ta có dùng đúng cách ấy hay không thì phải xem thêm.”
Bảo cúi xuống. Dấu trong cuốn sổ giống một vệt mực ngắn; hắn đã tưởng nó chỉ là chỗ bút bị tì mạnh. Thanh Nghi vẽ lại hai dấu cạnh nhau, ghi tên từng bản để khỏi lẫn.
Bà Mạnh hỏi Mộc: “Ngày ông đi, phần chờ đối để ở đâu?”
“Ta để lại trong sổ. Không mang đi.”
“Còn phần thật?”
Ông im lặng. Tiếng cô em nhà bác giữ dây báo giờ đổi ca vọng vào từ ngoài giếng. Hổ đáp lại, rồi bước đến cửa nhìn bát nước trong phòng trực. Anh không đi vào gian giữ sổ, chỉ nói mọi thứ ngoài đó vẫn như lúc nhận lượt.
Mộc đặt tay lên đầu gối. “Ta không biết hết phần ấy nằm ở đâu. Có phần đã chuyển sang nơi khác, có phần ghi trong sổ nhưng chưa rõ đã chuyển hay chưa. Ta khóa cửa khi chưa đối xong.”
“Ông có giao lại việc ấy cho ai không?” bà Mạnh hỏi.
“Không.”
Bà nhìn cuốn sổ. “Vậy ta đã nhận việc ngoài kia mà không biết còn việc trong này.”
Ông không nói gì. Bảo muốn hỏi nếu tìm ra phần chờ thì cửa chín có hết khó khăn không, nhưng thấy bà Mạnh đang giữ đầu trang, hắn giúp bà đặt hai miếng gỗ mỏng dưới mép giấy để trang khỏi cuộn.
“Có cần gọi người biết cứu giấy không?” Thanh Nghi hỏi.
Bà Mạnh gật. “Ngày mai nhờ ông Cẩn hỏi người quen. Hôm nay ta xem những trang tự mở được, không tách chỗ dính.”
Họ lật thêm hai trang. Một trang ghi gạo và dầu đèn; trang sau có tên người trực, một vài dòng bị nước làm nhòe. Mộc chỉ một cái tên ở giữa, nói người ấy từng làm sau ông. Bà Mạnh nhận ra tên, ngồi xuống ghế.
“Bà ấy chờ chìa à?” Bảo hỏi.
“Bà ấy đã hỏi ta. Ta nói ta không biết chìa ở đâu.” Bà Mạnh vuốt mép tờ giấy. “Sau đó bà mang bản chép mình còn giữ tới. Có những chỗ bà phải nhớ bằng đầu, vì sổ ở trong này.”
Mộc khép hai bàn tay trên gậy. “Bà ấy đâu rồi?”
“Mất trước khi con đường về làng mở lại.”
Ông ngẩng lên. “Bà có con cháu không?”
“Có người nhà. Họ còn ở làng.”
“Ta muốn gặp.”
“Để ta hỏi họ.” Bà Mạnh nhìn thẳng ông. “Họ có thể không muốn nghe.”
“Ta sẽ chờ.”
Bảo thấy ông đặt gậy xuống rồi lại cầm lên. Hắn chưa từng thấy Mộc ngồi không biết nên để tay ở đâu. Hắn đẩy bát nước gần hơn; ông cầm bát nhưng uống rất ít.
Tín mang thêm bánh ra. Cậu định mời Mộc, ông lắc đầu, nói bữa cơm vẫn còn no. Bảo lấy một chiếc, bẻ đôi cho Hổ khi anh đi ngang. Ô Kê đứng dưới ghế, chờ một mảnh vụn. Hắn cố tình đưa mảnh nhỏ nhất; con gà mổ xong vẫn nhìn hắn.
“Ngươi không biết cảm ơn à?”
“Cục.”
“Không tính.”
Thanh Nghi chép xong trang đang mở, đưa cho bà Mạnh đối. Bà chỉ một nét: số ở dòng cuối có thể là ba, cũng có thể là tám vì một góc bị mực loang. Nàng gạch số đã viết, để trống và đánh dấu chưa rõ. Bảo muốn lại gần đèn hơn, nhưng Mộc giữ tay hắn.
“Ánh sáng không làm nét mực trở lại.”
“Biết đâu nhìn kỹ hơn—”
“Nhìn kỹ thì được. Đừng để người khác tưởng chỗ không rõ đã thành rõ.”
Bảo ngồi xuống. Hắn không thích chỗ trống trong sổ. Nhưng hắn càng không thích nghĩ đến người từng trực phải đoán chừng ấy năm vì chiếc chìa nằm trong túi thầy mình.
Bà Mạnh gấp một mảnh giấy đánh dấu trang, đóng sổ lại. Hôm nay họ đã nhìn thấy tên người ghi sau Mộc và biết dòng không có tên chưa thể tính là một phần đã giao. Bà nhờ Thanh Nghi giữ bản chép tạm; cuốn sổ gốc để trong hộp khô ở từ đường, không đặt lại vào gian ẩm.
Trước khi về, Mộc xin ngồi thêm một lát ở ngưỡng cửa. Bà Mạnh đồng ý, nhờ Hổ ở gian ngoài. Bảo ngồi cạnh thầy, đưa ông phần bánh còn lại. Ông nhận một miếng nhỏ.
“Thầy đã nói no.”
“Ta muốn nếm.”
“Khác nhau à?”
“Khác. Ngươi luôn muốn ăn, chưa từng muốn nếm sao?”
Bảo nghĩ một lúc. “Có. Khi không đủ tiền mua cả cái.”
Mộc bật cười, ho khẽ rồi uống thêm nước. Tiếng cười làm Bảo nhớ những buổi ở tông, khi thầy ngồi trên bậc cửa và hắn tính tiền trước mặt ông. Lúc ấy hắn không biết chiếc chìa của làng nằm trong túi áo người ngồi cạnh mình.
“Thầy định làm gì tiếp?” hắn hỏi.
“Trả lời điều người ở đây hỏi. Nếu họ cho phép, ta muốn chép lại phần sổ còn đọc được.”
“Rồi sao?”
“Ta chưa biết.” Mộc nhìn cửa. “Trước đây ta cũng bảo chưa biết, nhưng lại giữ chìa không nói. Lần này nếu ta biết gì, ta sẽ nói ra.”
Bảo không đáp ngay. Hắn gấp lá gói bánh, cất vào túi. “Con còn giận.”
“Ta biết.”
“Lần này thầy biết thật à?”
“Ngươi vừa nói.”
Bảo nhìn ông. Mộc không cười, chỉ đưa bát nước cho hắn. Hắn nhận, uống một ngụm rồi trả lại.
Trời tối, bà Mạnh quay lại với người chị nhà bác giữ dây. Bà nói đã báo tin Mộc về cho người nhà của người từng giữ sổ. Họ xin để ngày mai trả lời, tối nay chưa muốn gặp. Mộc gật đầu, hỏi bà có thể chuyển lời rằng ông muốn xin lỗi không. Bà bảo đã chuyển rồi.
Người chị xem vết bản lề, nhận sẽ nhờ ông Cẩn trở lại ngày mai. Cửa giữ sổ được khép hờ, không khóa; chiếc chìa để trong hộp ở gian ngoài. Hổ nhắc giờ nhận ca đêm, cô em báo đã kiểm tra đèn và bát. Những việc ấy không làm dòng trống trong cuốn sổ có tên, nhưng người trực sau biết cuốn sổ đang ở đâu.
Mộc đứng dậy hơi chậm. Bảo đưa tay đỡ; ông nhận, không bảo mình tự đi được. Hai người đi qua sân, Ô Kê chạy trước, thỉnh thoảng dừng lại chờ. Về đến nhà bà Mạnh, Mộc xin ngồi thêm ở hiên. Tín mang ra chiếc chăn mỏng, đặt trên thành ghế.
Bảo xới cơm tối. Hắn đặt bát của Mộc cạnh bát mình, nhưng ông chỉ lấy ít canh. Dưới đáy bát, một giọt nước còn đọng, phản chiếu ánh đèn.