Chương 411: Người Đến Từ Đường Lớn
Người đầu tiên đến hỏi về những vệt sáng mang theo một chiếc ống đồng.
Ông đứng ngoài cổng từ đường, không bước vào. Trên vai ông là túi vải, bên hông treo ống đồng dài bằng cánh tay. Ông Thuận gặp ông ở chợ, đưa tới và giới thiệu ông là người đi từ đường lớn, muốn tìm người đã nhìn thấy ánh sáng hôm qua.
Bảo đang lau chiếc vá sau bữa sáng. Hắn nhìn ống đồng, tưởng trong đó có bản đồ. Người khách thấy hắn nhìn, đưa tay giữ nắp ống.
“Ta mang giấy,” ông nói. “Chưa có bản đồ mới.”
“Ông định vẽ à?”
“Nếu có đủ người kể.”
Ông Thuận chỉ mình: “Ta thấy một vệt, không thấy tám vệt như người ta nói ở chợ.”
Người khách lấy giấy khỏi ống, ngồi trên chiếc ghế ngoài hiên. Ông hỏi ông Thuận đứng ở đâu, nhìn về hướng nào và lúc ấy mây ra sao. Ông Thuận kể đang ở sân từ đường, ngước lên khi có người gọi; ông không nhớ chính xác thời điểm. Người khách viết lời ấy thành một đoạn ngắn, đọc lại. Ông Thuận sửa: ông nghe tiếng gọi trước, không chắc người gọi có thấy ánh sáng hay không.
Bảo thích cách ông khách sửa một dòng mà không phải xé cả tờ giấy. Hắn hỏi có thể xem không. Ông đưa cho hắn nhìn: góc trên vẽ một đường ngang, bên dưới có mấy mũi tên và tên những nơi khác nhau. Một mũi tên chưa ghi tên. Người khách nói đó là hướng một người kể từ chợ, nhưng ông chưa gặp người trực tiếp nhìn thấy.
“Người hôm qua đi qua làng đã thấy nhiều vệt,” Bảo nói.
“Người ấy ở đâu?”
“Đã đi rồi. Anh ấy nói nếu gặp tin rõ hơn sẽ nhắn về.”
Người khách hỏi có ai nghe cùng không. Thanh Nghi từ gian chính bước ra, mang theo tờ ghi lời người đi đường hôm qua. Nàng đọc lại: anh ấy thấy nhiều vệt cách xa nhau, nhưng không biết đó là gì. Bà Mạnh và ông Thuận cũng đã nghe. Người khách ghi rằng tin này qua lời kể, không phải chính ông hỏi người nhìn thấy.
Ông ngẩng lên nhìn Bảo. “Trong làng có người biết những vệt ấy là gì không?”
“Bà Mạnh nói có thể là những cửa khác bắt đầu lộ ra. Bà muốn nghe thêm người ở các nơi ấy.”
Người khách ngừng viết. Ông hỏi có thể gặp bà Mạnh không. Bảo nhờ Tín đi hỏi bà trước; nếu bà nghỉ, ông khách có thể chờ. Ông đồng ý, nhưng nhắc mình phải trở lại đường lớn trước tối. Tín mang lời đi, còn Bảo mời ông một bát nước.
Bát nước được đặt trên bàn ngoài hiên. Người khách không uống ngay. Ông nhìn qua sân, nơi chiếc giếng và tấm chắn còn được người nhà bác giữ dây trông, rồi hỏi: “Đó là cửa chín?”
Bảo thấy Hổ đang ngồi gần giếng, học thêm từ cô em người nhà bác. Hắn không biết người khách muốn biết để làm gì. Hôm qua bà Mạnh đã nói về cửa trước mặt người đi đường, nhưng bà chưa có mặt ở đây để trả lời tiếp.
“Đó là giếng của làng,” hắn nói. “Mọi người đang trông. Ông có thể hỏi bà khi bà tới.”
Người khách gật, không tiến gần hơn. Ông mở nắp ống đồng, lấy ra một tờ giấy khác. Trên đó có những đường cong cũ, mực ở giữa đã nhòe. Ông nói đây là bản chép từ một tài liệu ông được xem, không phải thứ ông tự đo; ông mang theo để đối chiếu các lời kể. Bảo nhìn nhưng không thấy ký hiệu nào giống chiếc giếng.
“Ông tìm cửa để làm gì?” hắn hỏi.
“Ta tìm đường đến nơi người ta nói có cửa. Ta muốn biết những người sống ở đó có thấy gì thay đổi.”
“Ông có định vào làng khác không?”
“Nếu họ cho vào.”
Bảo nhìn tờ giấy, nghĩ đến lá thư hỏi người chở dầu đã gửi đi. Hắn muốn hỏi ông khách có biết chú Quý hoặc chú Ba không, nhưng người này chưa nói mình đi qua trạm nào. Hắn hỏi trước. Ông kể đã qua một trạm ở đường lớn, không biết tên hai người ấy; nếu Bảo đưa lời nhắn, ông có thể giữ, nhưng không hứa sẽ gặp họ.
Người đàn ông giữ danh sách nghe tiếng, đến ngồi cùng. Ông hỏi người khách có biết cây đa gần bãi xe không. Người khách bảo dọc đường có nhiều cây đa; ông cần một địa điểm rõ hơn. Người nhà ông giữ danh sách mang bản chép hình bãi xe ra, đặt trước mặt khách. Ông xem, nói có thể nhận ra nếu đến đúng chỗ, nhưng bản vẽ cũ không cho biết bãi xe còn đó hay đã chuyển.
“Ta không nhờ ông tìm người ngay,” người giữ danh sách nói. “Chỉ hỏi nếu ông đi qua, có thể cho ta biết cây còn không.”
Người khách đồng ý nếu có dịp đi đúng tuyến. Ông ghi lời hỏi vào tờ riêng, đọc lại cho ông nghe. Hai người không đưa tên nhà đã rời làng; họ chỉ muốn biết vị trí cây đa và bãi xe cũ.
Tín trở lại cùng bà Mạnh. Bà đã ăn sáng và đồng ý gặp khách ngoài hiên. Dư An đi phía sau, mang cho bà chiếc ghế có tựa. Bà ngồi, nghe người khách trình bày những lời đã thu thập: có người ở đường lớn thấy nhiều vệt sáng, có người chỉ thấy một vệt; không ai ông gặp tận mắt khẳng định đó là cửa.
“Ông muốn chúng ta xác nhận?” bà hỏi.
“Ta muốn biết nơi này có chuyện gì xảy ra cùng lúc không.”
Bà Mạnh nhìn về phía phòng trực, rồi nhìn những người đang ngồi quanh bàn. “Làng có việc thay đổi. Có người đã nói được, có người còn cần chăm sóc. Chúng ta đang ghi lại những điều đã thấy.”
Bà không kể tên từng người. Người khách hỏi ông có thể xem cửa không. Bà nói giếng nằm ngoài sân, nhưng việc đang được người làng trông; ông có thể nhìn từ hiên, không tự chạm dây hay tấm chắn. Ông đồng ý. Bảo thấy bà không giấu giếng, cũng không trao việc trông cho người vừa tới.
Người khách nhìn theo hướng bà chỉ. Cô em người nhà bác giữ dây thấy có khách, vẫn ở chỗ mình. Hổ sang nói với cô rằng người khách chỉ nhìn từ hiên, không cần cô ngừng việc. Cô gật, tiếp tục nhặt lá khỏi rãnh.
“Cửa này đã mở?” người khách hỏi.
“Có đáp,” bà Mạnh nói. “Chúng ta còn đang theo dõi.”
Ông viết hai chữ ấy, không sửa thành *đã mở hoàn toàn*. Rồi ông hỏi về tám cửa kia. Bà bảo có những điều bà từng được nghe và giữ trong sổ, nhưng cần kiểm tra trước khi kể như chuyện chắc chắn. Người khách có vẻ sốt ruột, hỏi liệu có thể chờ bà lấy sổ không. Bà đáp hôm nay bà không mang theo, và không hứa có đủ điều ông cần.
Bảo nhìn chiếc ống đồng. Nó đựng giấy, chứ không đựng sẵn câu trả lời. Ông khách đóng nắp, rồi lại mở ra khi Tín mang tới một bát cơm nhỏ. Ông nói mình chưa ăn trưa, nhận bát và đặt giấy sang một bên.
Trong lúc ông ăn, người đàn ông giữ danh sách hỏi ông có biết đường tới một trạm khác ở phía đông không. Ông khách vẽ một đoạn đường, dừng trước một ngã rẽ và nói đoạn sau ông chỉ nghe kể. Ông giữ danh sách bảo cứ để trống. Hai người nhìn khoảng trống ấy một lúc, rồi cùng cười khi Bảo nói cây trên bản vẽ của khách giống cái chổi hơn cây của hắn.
Người khách ăn xong, cảm ơn và hỏi liệu có thể trở lại khi có tin từ những nơi khác. Bà Mạnh đáp ông có thể đến hỏi; lúc ấy người làng sẽ xem ai có thể tiếp. Ông không xin mang bản ghi ca trực, cũng không được xem phần tên người trong ngăn bàn. Ông chỉ chép lại lời bà cho phép: cửa chín có đáp, làng đang theo dõi, những vệt sáng cần được đối chiếu với người tại chỗ.
Trước khi đi, ông nói ở chợ đã có người bàn rằng phải tìm một người trông tất cả các nơi. Ông chưa biết ai đưa ý ấy ra. Bảo hỏi tại sao một người phải trông hết. Ông khách đáp: “Có lẽ họ sợ mỗi nơi nói một điều. Ta chưa gặp người đề nghị nên không biết.”
Bà Mạnh không tranh luận với một lời truyền qua chợ. Bà hỏi người khách nếu gặp người đề nghị có thể hỏi họ định để ai thay ca khi người ấy ngủ không. Ông khách bật cười, rồi thấy bà không cười theo thì lấy bút ghi câu hỏi.
“Ta sẽ hỏi.”
Bảo tiễn ông đến cổng. Người khách nhắc mình chưa chắc đi qua cây đa, nếu không đi được sẽ không gửi tin đoán. Hắn bảo ông giữ lời hẹn ấy cũng được. Ông gài ống đồng vào túi, bước ra đường lớn.
Buổi chiều, người đàn bà chăm Thôi thúc mang bát đến từ đường. Ông đã ăn thêm ít cháo, muốn ngồi lâu hơn ở cửa, nhưng vẫn chưa cầm rìu. Bảo kể có khách hỏi về ánh sáng. Bà nói Thôi thúc nghe người ngoài chợ bàn tán, muốn biết có ảnh hưởng tới việc bán thịt không. Bảo chưa biết; hắn nhờ bà nói với ông rằng quầy vẫn ở đó, dao đã được bọc và đặt nơi ông thấy.
Trong phòng trực, Thanh Nghi báo mực nước và đèn chưa đổi rõ. Bảo nhận ca, đặt bản chép lời người khách ở gian chính, không để lẫn với danh sách trực. Hắn hỏi nàng có nghĩ nhiều người sẽ tới không. Nàng nói nếu những vệt sáng còn xuất hiện, có thể có người muốn biết. Họ cần hỏi bà Mạnh và người làng cách tiếp khách, chứ chưa thể biết ai sẽ đến.
Ô Kê nhảy lên bậc cửa, nhìn theo con đường người khách vừa đi. Bảo lấy ít thóc đặt trước nó. Con gà ăn, rồi lại ngẩng đầu. Ngoài sân, người nhà ông giữ danh sách đang cất chiếc ghế dài sau bữa cơm hôm qua. Ông Thuận giúp giữ một đầu, hỏi có cần chừa ghế cho khách tiếp theo không.
“Cất dưới mái,” người nhà đáp. “Có khách thì lấy ra.”
Bảo ngồi bên bàn trực. Bữa cơm đã qua, nhưng chiếc vá vẫn dùng được, người trông giếng vẫn đổi lượt, và câu hỏi về những vệt sáng đã theo một người đi ra khỏi làng. Hắn nhìn bát nước một lần nữa, rồi viết vào sổ: *Hôm nay có khách hỏi. Bà Mạnh đã nói cửa chín có đáp; những nơi khác cần hỏi thêm.*