Chương 146: Ba Cột Trên Tờ Mới
Tờ giấy ở bảng kho bị mưa tạt ướt một góc.
Tạ Tiểu Bảo đứng dưới mái hiên đọc dòng thông báo. Mực chưa nhòe, chỉ có mép giấy dính vào ván. Hôm qua người coi kho bảo nếu có việc sẽ báo ở đây; hôm nay danh sách cần hai người chuyển bao rỗng, dưới cùng ghi rõ phải đi tới sân sau.
Bảo nhìn đầu gối mình. Hắn có thể đi quãng gần, nhưng Dư An vẫn dặn tránh mang nặng. Hắn không viết tên vào danh sách, đi vòng sang cửa kho hỏi có việc ngồi được không. Người coi kho bảo buổi sáng chưa cần; chiều hắn cứ tới nhận công như đã hẹn.
“Con không đăng ký chuyển bao. Nhưng nếu người mới hỏi giấy nhận bao để đâu thì con chỉ được.”
“Giấy ở bàn trong. Người phụ trách tự giao.”
“Vậy con không cần chỉ.”
“Ừ.”
Bảo đứng thêm một lát. Người coi kho đang buộc miệng một túi vải. Thấy hắn chưa đi, ông hỏi còn việc gì.
“Con đang nghĩ buổi sáng làm gì.”
“Ăn sáng chưa?”
“Chưa.”
“Vậy làm việc ấy trước.”
Bảo tới nhà ăn. Hôm nay có cháo kê, dưa muối và bánh hấp. Hắn mua thêm một bánh bằng một đồng, ăn hết trước khi bát cháo nguội. Người ngồi cạnh nhường cho hắn chỗ gần mép bàn để duỗi chân. Hắn cảm ơn, đặt chiếc bát rỗng gọn vào trong rồi mới đứng dậy.
Ở sân ngoài, người trực mang một tấm bảng gỗ ra đặt dưới mái che. Trên bảng là bản phác đoạn đường về trạm Vạn Yêu. Bảo nhận ra mấy nét rẽ, nhưng tấm này lớn hơn bản hắn xem ở chỗ Hứa Đồng. Bên dưới có một tờ giấy niêm yết: đoạn ngoài trạm cho người có việc đi theo hướng dẫn; lối vào sâu vẫn hạn chế, chờ kiểm nền.
Một người trẻ đứng cạnh hắn đọc xong, thở dài. Người ấy mang bao đồ trên vai, nói mình có hẹn nhận một dụng cụ để lại ở nhà phụ. Người trực giải thích có thể gửi tên món đồ và nơi để, đội phụ trách sẽ xem khi có điều kiện; hôm nay không được tự xuống tìm.
“Ta chỉ đi lấy rồi về,” người trẻ nói.
“Ta biết. Nhưng đoạn ngươi phải đi qua chưa được bàn giao.”
“Bao giờ mới được?”
“Chưa có giờ. Nếu có thông báo mới, ta thay giấy ở đây.”
Người trẻ nhìn tấm bản đồ, bàn tay giữ chặt quai bao. Bảo nhớ cảm giác muốn chạy tới lấy một thứ còn ở phía sau: cái nồi và mảnh kim loại vẫn đang gửi, thầy đã hẹn sẽ tính đường nhận về khi hắn khỏe hơn. Nhưng hai món của hắn có người giữ, còn người trước mặt không chắc dụng cụ vẫn ở đúng chỗ cũ.
“Ngươi có nhớ lần cuối để nó ở đâu không?” Bảo hỏi.
“Trong nhà phụ. Ta đặt cạnh cửa.”
“Cửa nào?”
Người kia quay sang nhìn hắn. “Nhà phụ có hai cửa. Ta không nhớ cửa phía nào.”
Người trực đưa một mảnh giấy và bút, bảo cứ ghi những gì nhớ được, thêm cả chỗ chưa chắc. Người trẻ viết tên món đồ, tả cái cán và dây buộc; tới vị trí, hắn ngừng một lúc rồi ghi có hai cửa, không nhớ cửa nào. Bảo không cầm bút giúp. Người viết tự gấp giấy đưa cho người trực, hỏi khi nào có thể quay lại hỏi tin.
“Sau ba ngày, hoặc sớm hơn nếu ta nhắn.”
Người trẻ đi rồi, Bảo nhìn tờ niêm yết. Hắn muốn ghi thêm cạnh cửa hẹp có một dấu ở chân tường, nhưng đây là bảng hướng dẫn đường, không phải chỗ để hắn tự bổ sung. Hắn hỏi người trực xem bản phác có ghi hai cửa ở đoạn dưới đất không.
“Phần này chỉ tới đoạn ngoài trạm,” người trực đáp. “Ta không có bản đường bên trong ở đây.”
“Vậy người nhận báo có bản khác?”
“Có thể. Ngươi hỏi người ấy hoặc Hứa quản sự.”
Bảo gật. Hắn đã có số bản phác trong túi, nhưng chưa có việc gì mới cần đưa cho quản sự. Hắn định đi thì người trực hỏi hắn có phải người từng báo về cửa hẹp không. Bảo đáp, rồi nói mình không biết đường đã mở; hắn vừa đọc thông báo giống người khác.
Người trực cười. “Ta không định hỏi ngươi điều ấy. Ta cần mang giấy này tới Hứa quản sự, ngươi có tiện đi cùng không?”
“Con tiện. Nhưng con không mang đồ nặng.”
“Chỉ một tờ thôi.”
Hai người tới phòng Hứa Đồng. Quản sự đang làm việc với người nhận báo hôm trước và một người trong đội kiểm tuyến. Người trực đưa tờ ghi món đồ để quên, nhắc lại phần người gửi không chắc vị trí. Hứa Đồng nhận, đối với danh sách đồ đã được báo trước đó rồi đặt tờ mới bên cạnh.
Người kiểm tuyến nhìn Bảo. “Ngươi đã vẽ chỗ cửa theo lời kể?”
“Dạ. Con không đo tại chỗ.”
“Ta biết. Hôm nay ta tới nói về tờ báo.”
Ông chỉ vào bản đường. Đoạn ngoài đã có người trực, nhưng một chỗ phía trong còn phải xem lại sau mưa. Không ai trong phòng kết luận cửa hẹp an toàn. Người kiểm tuyến muốn tờ bàn giao thể hiện được hai điểm khác nhau: cửa gần phòng tượng và cửa hẹp cạnh chỗ hạ cáng. Phiếu cũ có chỗ cho tên tuyến và một vị trí cần chú ý; ghi hai cửa vào cùng một ô thì phần sau bị dồn ra mép.
Hứa Đồng lấy phiếu gốc để nguyên, đặt một tờ sạch xuống bàn. Ông kẻ thêm ba cột: cửa, người trực và phần còn lại.
Bảo đọc hàng chữ, chạm ngón tay vào mép bàn. “Phần còn lại là nước ạ?”
“Có thể là nước, đồ hoặc việc chưa bàn giao,” người kiểm tuyến nói. “Nhưng phải ghi rõ là phần gì.”
Hứa Đồng chỉ cột đầu. “Đây là tờ bổ sung cho đợt này. Không thay phiếu đường chung khi đội chưa thống nhất.”
Người nhận báo đề nghị một dòng cho từng cửa. Người kiểm tuyến đồng ý, nhưng nhắc rằng có nơi chưa có người trực ngay tại cửa; nếu điền tên người ở trạm vào cột ấy, người sau có thể tưởng người đó đứng cạnh cửa suốt ca.
Hứa Đồng sửa dòng hướng dẫn: ghi tên cùng nơi trực nếu biết; chưa xác nhận thì để rõ chưa xác nhận. Ông đưa bút cho người kiểm tuyến điền phần của mình. Người ấy ghi cửa gần phòng tượng theo bản đường đã có, còn vị trí Bảo báo ở cửa hẹp được chú thích là lời kể, chờ kiểm tại chỗ.
“Con có thể ghi giúp không?” Bảo hỏi.
“Ngươi giúp ta đọc lại phần ngươi đã kể,” Hứa Đồng đáp. “Phần đội kiểm tuyến biết, để họ tự ghi.”
Bảo xem tờ mới. Hắn đọc tới dòng cửa hẹp, thấy ghi người trực: chưa xác nhận. Phần còn lại có một câu dẫn tới báo cáo về dấu ở chân cửa, kèm ghi chú đường chưa bàn giao. Hắn hỏi thêm có cần ghi chiếc bình đang ở trạm không.
Người kiểm tuyến nói chiếc bình thuộc phần bàn giao của trạm ngoài, đã có phiếu đồ riêng; trong bảng cửa hẹp không ghi như thể nó đang ở dưới đó. Bảo nhìn lại hai dòng, gật đầu. Nếu để chiếc bình ở sai chỗ, người cần nước có thể tìm mãi tại cửa hẹp mà không thấy.
Người nhận báo lấy bản phác vị trí Bảo đã vẽ tại phòng, kẹp cạnh tờ mới. Người kiểm tuyến xem, xác nhận đã nhận bản minh họa để đối chiếu khi được phép kiểm tra bên trong. Ông không hứa ngày cụ thể, chỉ ghi tên mình ở phần nhận tài liệu.
“Con không cần vẽ thêm ạ?” Bảo hỏi.
“Nếu con nhớ thêm điều chắc chắn, báo qua Hứa quản sự. Còn hôm nay như vậy đủ.”
Bảo nhìn tờ giấy. Các cột vẫn còn nhiều khoảng trắng, không phải vì người viết quên mà vì có việc chưa thể xác nhận. Hứa Đồng gấp tờ bổ sung cùng phiếu cũ, để bản phác riêng giữa hai miếng bìa mỏng. Ông dặn người nhận báo mang tới đội sử dụng phiếu xem; nếu họ đồng ý cách kẻ, lần sau có thể bàn cách áp dụng.
Người kiểm tuyến ký vào phần nhận, rồi đứng dậy. Bảo nhìn nét bút cuối cùng, hỏi:
“Con có được giữ một bản không?”
“Phần này là giấy bàn giao của đội,” Hứa Đồng nói. “Ngươi đã có số bản phác của mình. Nếu cần biết việc kiểm dấu tới đâu, cứ hỏi ta.”
“Vâng.”
Hắn hơi tiếc. Tờ giấy có ba cột vừa mới kẻ, còn hắn chỉ được nhìn lúc nó nằm trên bàn. Nhưng hắn nhớ được tên từng cột, bèn ghi vào mảnh giấy riêng khi ra khỏi phòng: cửa, người trực, phần còn lại. Bên dưới hắn ghi thêm: tờ bổ sung của đợt này, chưa phải phiếu chung.
Đến trưa, trời tạnh mưa. Bảo ăn cơm với canh cải, không mua thêm bánh. Số tiền công ở kho phải chiều mới nhận; hắn còn tiền từ chuyến đi, nhưng muốn để dành cho việc lấy lại cái nồi và mảnh kim loại. Hắn chưa biết chuyến đó cần những gì, nên trước hết không tính tiền chưa tiêu thành tiền dư.
Buổi chiều, hắn tới bàn phát công theo giờ hẹn. Người phát đối các ca hỗ trợ với bảng kho, đọc từng lượt để hắn kiểm. Bảo nhận khoản công, đếm lại và ký tên. Trên đường về hắn mua một cái bánh một đồng, cầm nửa cái tới khu nuôi. Ô Kê nhìn gói giấy rất lâu; hắn bẻ một mẩu, đợi nó ăn xong mới đổ lượt kê thứ hai và kiểm nước.
Hắn về phòng lúc mép sân còn ướt. Tờ giấy có giờ nhận công được gạch đi. Dòng chờ kiểm dấu vẫn còn; hắn thêm rằng đội đã nhận bản phác, đường sâu chưa bàn giao. Sau đó hắn cất số tiền còn lại, đặt ba đồng riêng ở một góc hòm để dành cho những việc cần trả trước khi biết ngày lấy đồ.
Mảnh giấy ghi ba cột được hắn kẹp bên cạnh bản sao, dưới chiếc chén rỗng.