Chương 175: Một Câu Hỏi Ngoài Sổ
Tạ Tiểu Bảo nghe tiếng gõ cửa khi đang đếm tiền.
Hắn mở khăn, đếm lại số đồng còn sau chiếc bánh hôm qua, rồi buộc nút trước khi ra mở. Ngoài cửa là người coi khu nuôi, tay cầm một mảnh giấy gấp.
“Có người gửi qua cổng, nói đưa tận tay ngươi.”
Bảo hỏi ai gửi. Người kia đáp người đưa giấy chỉ nói là người cùng chuyến hàng hôm trước; hắn đã chờ ở cổng một lúc rồi rời đi. Người coi khu nuôi không mở giấy, chỉ nhận vì người đưa nhắc đúng tên Bảo.
Trong giấy có một lời hẹn gặp sau bữa trưa ở chỗ nghỉ của người đánh xe, ký tên người trẻ đã hỏi chuyện sổ. Dưới đó thêm một dòng: *có việc muốn nhờ xem, sẽ nói rõ trước khi ngươi nhận*.
“Ngươi có đi không?” người coi khu nuôi hỏi.
“Con còn phải xem giờ trực.”
Hắn cảm ơn, cất giấy rồi cùng người ấy tới khu nuôi. Ô Kê đang đứng trên thanh gỗ, thấy Bảo liền nhảy xuống. Hắn thay nước, thêm kê và kiểm chốt. Người coi hứa trông trong ca sáng, nhắc hắn báo lại nếu đi lâu hơn giờ đã nói.
Ở nhà ăn, Bảo ăn cháo và mua một chiếc bánh bằng tiền đã nhận. Lâm Hổ tới sau, nghe hắn kể lời hẹn thì hỏi:
“Ngươi định mang sổ tới?”
“Sổ ngoại viện ở phòng Hứa Đồng.”
“Còn sổ của ngươi?”
“Ta chưa biết ông ấy muốn xem gì.”
Hổ nói sau trưa mình còn luyện, nhưng có thể đi cùng một đoạn nếu người phụ trách cho nghỉ đúng giờ. Bảo bảo bạn cứ theo lịch, không cần đổi ca vì một lời hẹn chưa rõ việc. Hắn gói nửa chiếc bánh để dành, tới phòng nhận ca.
Hứa Đồng xem giấy mời, hỏi hắn định gặp trong giờ trực hay sau. Bảo chỉ giờ ghi trên giấy; ca của hắn kết thúc trước đó, nếu người thay tới đúng giờ. Ông nhắc hắn có thể hỏi điều kiện trước khi nhận, và nếu việc bên ngoài đòi xem hồ sơ ngoại viện thì phải hỏi người giữ hồ sơ, không tự mang đi.
Ca sáng diễn ra yên hơn hôm trước. Người tiếp vận báo thợ đã bớt chiều rộng miếng che bảng nước; chuyến tới sẽ mang lại điểm giao. Bảo ghi người nhận việc, giờ dự kiến gửi, rồi để dòng thử tiếp cho ca sau. Một người tới hỏi giờ gặp Hứa Đồng; hắn chỉ giờ tiếp và mời ngồi, không viết thêm điều người ấy không muốn để lại.
Tới giờ, người thay ca tới. Hai người đọc lại sổ, đối tên những việc còn chờ và ký bàn giao. Bảo trả bút, lấy nửa chiếc bánh trong túi ra nhưng chưa ăn. Hứa Đồng bảo nếu cuộc gặp kéo dài, hắn có thể quay về báo sau; ông không cần nghe từng lời riêng của hắn, chỉ cần biết nếu việc có liên quan hồ sơ ngoại viện.
Bữa trưa có cơm, rau và canh. Hổ đến muộn, nói buổi luyện chiều bắt đầu sớm hơn, không đi cùng được. Hắn đưa Bảo một chiếc bánh nhỏ của mình.
“Để ngươi không phải nhận tiền trả bằng bánh của người lạ.”
“Ngươi đã trả tiền mua hộ hôm trước rồi.”
“Cái này cho thêm.”
Bảo nhận, bẻ đôi đưa lại. Hai người ăn xong rồi chia đường: Hổ tới sân, Bảo đi chỗ nghỉ. Hắn mang giấy mời và miếng chì gói riêng, không mang chiếc nồi hay sổ ca.
Người trẻ đang ngồi cùng một người phụ nữ lớn tuổi trước bàn thấp. Trên bàn có một cuốn sổ đóng dây và hai bát nước. Người ấy giới thiệu bà phụ trách đối tiền các chuyến; bà gật đầu, hỏi Bảo uống nước không. Hắn nhận, ngồi xuống khi được mời.
“Ta muốn nhờ ngươi xem một đoạn sổ,” người trẻ nói. “Không cần chép toàn bộ. Hai bên giao nhận đều nói phần của mình đúng, nhưng số bao ghi lúc qua một điểm nghỉ khác số khi tới nơi.”
“Ông muốn con tìm bao mất?”
“Ta muốn ngươi chỉ chỗ hai bản không khớp, rồi hỏi những câu ta nên hỏi người giao.”
“Con không biết hàng đã đi đâu.”
“Ta cũng chưa biết. Bởi vậy mới cần người đọc lại.”
Bảo nhìn cuốn sổ. Người phụ nữ đặt cạnh đó một tờ sao, che những dòng không liên quan. Bà nói đoạn này chỉ gồm số bao, ngày giao và tên người giữ sổ; giá hàng và tiền của người khác không cần cho hắn xem. Nếu hắn nhận, bà sẽ ngồi cùng và giữ bản gốc.
“Công thế nào?” Bảo hỏi.
Người trẻ đề nghị trả theo buổi xem, kể cả khi Bảo chỉ tìm được câu hỏi chứ chưa tìm được bao. Bảo hỏi thời gian, nơi làm, ai xác nhận hoàn thành và có cần đi xa không. Bà đáp xem tại chỗ hôm nay, không yêu cầu hắn đi xa; nếu sau này cần gặp người giao sẽ thỏa thuận tiếp.
Bảo nghĩ tới lương ngoại viện và lời dặn của Mộc. Hắn hỏi rõ khoản công tính riêng ngoài giờ trực, không lấy giấy hay thời gian của ngoại viện. Người trẻ đồng ý. Họ viết một tờ hẹn ngắn, ghi số công cụ thể và phạm vi xem; Bảo đọc, sửa một dòng từ *tìm bao mất* thành *đối số ghi và đề xuất điều cần hỏi*. Cả hai cùng xác nhận sửa.
“Con nhận một buổi,” hắn nói.
Trong sổ chuyến, một cột ghi số bao rời điểm đầu, cột khác ghi số nhận tại điểm nghỉ. Hai số bằng nhau. Tờ sao ở điểm cuối ít hơn một bao; bên cạnh có nét gạch và chữ nhỏ mà Bảo không đọc rõ.
Hắn hỏi ai viết chữ ấy. Người phụ nữ nói đó là chữ của người giữ sổ tại điểm cuối. Bà có bản chép lại, nhưng chữ chép cũng không rõ. Bảo không đoán nó là *thiếu* hay *đổi*. Hắn đặt hai tờ cạnh nhau, chỉ dòng ngày.
“Có phải cùng một chuyến không?”
“Cùng số chuyến,” bà đáp.
“Có đổi xe giữa đường?”
“Có. Ở điểm nghỉ.”
“Người nhận ở điểm cuối có ký đủ số trên xe hay đủ số trên phiếu?”
Người trẻ nhìn lại tờ sao. “Ở đây chỉ ghi đã nhận, không nói cách đối.”
“Vậy hỏi người nhận. Còn người giao tại điểm nghỉ, hỏi có mở bao không.”
Bà viết hai câu hỏi. Bảo chỉ một chỗ nữa: ngày trên tờ sao điểm cuối có thêm nét sửa. Người phụ nữ nói ngày ấy từng ghi sai rồi sửa theo lịch chuyến, nhưng không có tên người xác nhận cạnh chỗ sửa. Bà biết việc ấy qua lời người chép, không trực tiếp có mặt.
“Vậy hỏi cả người sửa?”
“Phải,” bà nói, rồi ghi thêm.
Bảo ngồi gần nửa buổi, không tìm thấy chiếc bao bằng cách nhìn giấy. Hắn tìm được ba chỗ cần hỏi. Người trẻ hỏi hắn có thể đi tới điểm nghỉ cùng chuyến sau không. Bảo nhìn đầu gối, nói chưa biết đường và thời gian, phải hỏi Dư An cùng người xếp ca trước. Ông không ép, bảo chuyến chưa có giờ.
Bà đối lại những câu đã viết với hắn, thêm tên người sẽ hỏi. Họ xác nhận buổi xem kết thúc, người trẻ trả tiền theo tờ hẹn. Bảo đếm tại chỗ, tách khoản này khỏi tiền còn trong khăn cũ. Hắn hỏi có thể giữ bản câu hỏi mình vừa viết không; bà cho hắn chép phần của mình, không cho mang bản gốc.
Lúc Bảo đứng dậy, người trẻ nhìn túi áo hắn.
“Hôm qua ngươi nói có một miếng chì đã giữ lâu. Nó không phải thứ duy nhất ngươi mang từ Thanh Hà tới đây?”
“Con còn quần áo.”
“Ta hỏi về đồ cũ.”
“Quần áo của con cũng cũ.”
Người ấy im lặng, rồi nói có người từng thấy Bảo mang một chiếc nồi đen. Ông hỏi hắn có muốn bán không.
Bảo đặt chén xuống. “Ai thấy?”
“Ta nghe qua người đi đường. Ta không ở đó.”
“Ông định mua để làm gì?”
“Ta muốn xem trước, rồi mới nói giá.”
“Con chưa định bán.”
“Ngươi chưa nghe giá.”
“Con cũng chưa biết ông muốn xem cái gì trên nồi.”
Người phụ nữ đóng sổ, không chen vào. Người trẻ nói có người sưu tầm đồ bếp cũ, nhưng chưa đưa tên. Ông hỏi liệu ngày khác có thể nói thêm. Bảo không hứa cho xem; hắn nói nếu có lời đề nghị cụ thể, ông có thể gửi qua phòng Hứa Đồng hoặc hẹn hắn sau giờ trực.
“Ta không làm việc mua bán trong giờ ghi cửa,” hắn nói.
“Được.”
Người trẻ đưa lại tờ hẹn đã xác nhận công. Không ai theo Bảo về. Hắn đi thẳng tới phòng Hứa Đồng, kể phần liên quan việc thuê ngoài giờ và việc có người hỏi mua nồi. Ông hỏi người kia có biết nồi đang ở đâu không. Bảo đáp người ấy chỉ nói nghe qua người đi đường; hắn không cho xem hay nói nơi cất.
Hứa Đồng bảo hắn giữ tờ hẹn, không để người khác tự nhận thay. Về chiếc nồi, ông khuyên Bảo nói với Mộc trước khi gặp thêm người hỏi mua. Bảo đồng ý; hôm nay trời đã muộn, hắn gửi lời hẹn qua người biết đường tới nhà Mộc, không nhờ kể chi tiết.
Lâm Hổ gặp hắn ở nhà ăn. Bảo kể công xem sổ đã được trả, nhưng chưa nói số tiền cho những người ngồi gần. Hắn hỏi Hổ có muốn một cái bánh không, rồi dùng một phần tiền mới mua hai cái. Hổ nhận một cái, hỏi sao hôm nay được mời.
“Ta được trả tiền hỏi.”
“Ta đã bảo nghề này tốt.”
“Hôm nay tốt. Còn phải xem lần sau họ hỏi gì.”
Bữa tối có cơm, rau và canh. Sau đó Bảo kiểm Ô Kê, báo người coi khu nuôi mình đã về đúng giờ. Trong phòng, hắn đếm riêng tiền cũ và tiền công vừa nhận sau hai chiếc bánh. Chiếc nồi vẫn bọc vải phía trong bàn; hắn không mở, chỉ kéo ghế ngồi đối diện nó.
Trên bàn là tờ hẹn có dòng *đối số ghi*, bên cạnh là mẩu chì gói trong khăn.