Chương 190: Đường Đi Vòng Quanh
Tạ Tiểu Bảo không ngủ ngay sau khi nhìn thấy chín vòng trên giấy của Nhất Dực Hội.
Hắn nằm một lúc, rồi lại ngồi dậy, lấy tờ nháp đặt dưới ánh đèn. Ở đó có đoạn đường hắn đã đi, những chỗ Lương kể và câu *chín cửa — lời người giữ giấy*. Hắn không vẽ thêm vòng nào. Hắn nhớ có chín vòng trên sơ đồ của hội, nhưng không nhớ đủ vị trí để đặt chúng đúng.
Chiếc nồi nằm bọc vải ở phía trong bàn. Bảo không mở. Hắn nhìn tờ giấy, nhớ cột đá dưới Thái Huyền và câu khắc đã báo cho Hứa Đồng. Nếu các con đường của hội đi quanh những vùng được gọi là cửa, họ biết điều gì về chiếc cột? Hắn viết câu hỏi ấy xuống, đặt dấu hỏi sau cùng.
Sáng hôm sau, hắn ăn cháo, mua một chiếc bánh bằng tiền công đã nhận và bẻ nửa cho Lâm Hổ. Hổ hỏi đêm qua hắn có đếm được chín hạt đậu không. Bảo đáp hắn đã ngủ trước khi đếm xong; nói thật hơn là hắn không lấy đậu ra.
“Ta cũng mơ thấy chín cái bánh,” Hổ nói.
“Của ai?”
“Trong mơ chưa ai nhận.”
“Vậy ngươi ăn chưa?”
“Ta tỉnh lúc đang hỏi.”
Bảo nhìn nửa chiếc bánh của bạn. “Lần sau ăn trước khi hỏi.”
“Ngươi vừa dạy ta làm sai.”
“Trong mơ không tính.”
Họ cười, nhưng Bảo vẫn gấp tờ nháp cẩn thận trước khi tới phòng Hứa Đồng. Hắn đã kiểm nước, chốt cửa khu nuôi Ô Kê và nhờ người coi trông trong giờ trực.
Người trực trước bàn giao sổ, nhắc miếng che bảng nước đã thử thêm một lượt mưa; người ở điểm giao báo giấy vẫn khô và muốn giữ cách buộc hiện tại. Bảo ghi lời ấy, hỏi Hứa Đồng có thể khép dòng theo dõi không. Ông bảo chuyển lời cho người tiếp vận, khi người ấy xác nhận đã nhận thì đánh dấu hoàn tất phần phòng đang giữ; người ở điểm giao vẫn tự quyết việc dùng bảng.
Bảo làm theo. Một việc được khép trên sổ không có nghĩa bảng sẽ không bao giờ cần sửa nữa; lần sau nếu người trực báo, họ lại mở một dòng mới. Hắn nhận ra câu ấy khi đặt bút, không viết nó lên đầu trang.
Gần trưa, người giữ giấy của hội tới cùng Lương. Họ đồng ý cho Hứa Đồng xem sơ đồ chín vòng trong một buổi gặp, không để bản gốc lại. Người trẻ từng thuê Bảo cũng tới, mang hai phiếu chuyến có những vùng được khoanh. Hứa Đồng mời họ vào phòng, hỏi Bảo có thể đổi ca lúc cuộc gặp diễn ra không. Người trực sau đã tới sớm và đồng ý nhận; hai người đối sổ, ký giờ bàn giao.
Trước khi mở giấy, Hứa Đồng nói rõ ông giữ bản ghi của ngoại viện, không tự chép thông tin kinh doanh không cần thiết. Người giữ giấy nói họ muốn hỏi xem một vùng trên sơ đồ có trùng với tên nơi ngoại viện biết không; họ không yêu cầu xem sổ gốc nếu ông không đồng ý.
Bảo đứng cạnh bàn. Sơ đồ có chín vòng như hôm qua. Người giữ giấy chỉ vùng gần đường Bảo từng qua, rồi đặt hai phiếu chuyến bên cạnh. Một phiếu ghi xe dừng phía ngoài vùng thứ nhất; phiếu khác ghi đổi người gần vùng thứ hai. Lương chỉ thêm một lịch cũ có điểm nghỉ ở phía ngoài một vòng thứ ba.
“Các ông đi vòng quanh cả chín?” Bảo hỏi.
“Những tuyến trong tập này được xếp để có thể đi quanh những vùng ấy,” người giữ giấy đáp. “Không phải một chiếc xe đi hết chín nơi trong một chuyến.”
Ông lật trang sau. Những đoạn đường nối các điểm nghỉ nằm ở phía ngoài những vòng được khoanh. Có đoạn liền, có đoạn chấm và có đường chỉ ghi tên người từng dùng. Bảo lần theo bằng đầu bút không chạm giấy: một lối rẽ qua bến đông, một đường vòng về điểm đổi người, rồi những đoạn khác hắn chưa từng đi.
“Ông đã tự đi hết chưa?”
“Chưa. Ta giữ bản ghép từ nhiều người. Ta biết ai đưa từng đoạn, không thể bảo đã thấy tất cả.”
“Vậy ông biết đường quanh chín chỗ từ giấy.”
“Đúng. Và hội có người đi những đoạn khác nhau.”
Bảo nhìn tấm giấy một lần nữa. Những đường ấy không vẽ xuyên qua giữa các vòng. Chúng men theo bên ngoài, nối trạm nghỉ và nơi đổi hàng. Hắn nhớ người trẻ nói đường có thể đi được mà cửa không nhận, và người mua vẫn cần hàng.
“Các ông biết chín chỗ ấy ở đâu?”
“Chúng ta có tên vùng và những đường gần đó. Có chỗ tên cũ, cần đối lại. Ta không bảo biết mọi thứ nằm dưới mỗi dấu.”
Hứa Đồng hỏi một vùng gần Thái Huyền được ghi theo tên nào trong bản cũ. Người giữ giấy cho biết một tên địa hình, không nhắc tới cửa đá dưới tông. Ông nói tên ấy có trong phiếu cũ của hội, nhưng chưa hỏi người ngoại viện xác nhận. Hứa Đồng nhận ra tên vùng trong một báo cáo ông từng giữ; ông không đưa bản gốc ra, chỉ nói có thể đối tên với người có trách nhiệm.
“Chín cửa trong sổ của các ông có liên quan tới câu khắc dưới Thái Huyền không?” Bảo hỏi.
Người giữ giấy lắc đầu. “Ta chưa thấy câu khắc. Ta không biết.”
Người trẻ nói có người trong hội từng hỏi về những nơi ấy, nhưng ông không biết họ đã vào hay chỉ nghe tên. Ông cũng không nhận mọi vật mang dấu chim đều thuộc hội. Hứa Đồng ghi lại tên người nói và những điều có thể hỏi tiếp, không chép thành kết luận về cửa đá.
Bảo chỉ tờ lịch, hỏi vì sao hội giữ đường đi vòng thay vì chỉ ghi những cửa được phép nhận hàng. Lương nói có khi một nơi không nhận chuyến này nhưng nhận chuyến khác; có khi đường gần bị hạn chế mà người ở phía sau vẫn cần hàng. Người giữ giấy nói thêm: biết đường vòng cũng có giá với người cần chuyển hàng, vì họ không phải đợi ở cửa đóng.
“Các ông lấy tiền vì biết đường?” Bảo hỏi.
“Vì chuyển được hàng và có người nhận,” người trẻ đáp. “Nếu chỉ vẽ đường mà hàng không tới, người thuê vẫn sẽ hỏi.”
“Vậy trên giấy của ông có người nhận ở từng chặng?”
“Có những chặng đã đối, có chặng vẫn phải hỏi.”
Hứa Đồng hỏi liệu hội có thể cho xem riêng những dòng gần vùng Thái Huyền cùng người giữ giấy, không chuyển bản đi hay không. Ông giữ giấy đồng ý bàn tiếp sau khi hỏi người phụ trách hội. Ông không hứa giao cả tập lịch. Bảo nhận việc ghi câu hỏi của mình, không nhận thay Hứa Đồng công việc đối sổ.
Cuộc gặp dừng khi người giữ giấy phải đi chuyến khác. Ông cuộn sơ đồ, để hai phiếu lại cho Lương kiểm vì đó là phiếu của chuyến đang xử lý. Bảo xin chép một câu: *các tuyến trên bản được xếp quanh chín vùng gọi là cửa; bản ghép từ nhiều người*. Người giữ giấy đọc rồi bảo thêm chữ *theo lời ta*. Hắn thêm, đưa ông xem.
“Ta không chép vị trí của ông,” Bảo nói.
“Ngươi đang muốn biết vị trí?”
“Con muốn biết những nơi ấy có liên quan tới điều con đã thấy không.”
“Vậy phải hỏi người biết chỗ ngươi đã thấy.”
Hắn nghĩ tới Hứa Đồng và Mộc, chứ không nói ra tên chiếc nồi. Người trẻ cảm ơn Bảo về những câu hỏi đối tuyến, hỏi hắn có muốn tiếp tục làm thuê khi họ xác định được người nhận ở các điểm cũ không. Hắn đáp sẽ nghe việc, giờ và công từng lần; lời từ chối bán nồi vẫn không đổi.
Bữa trưa đã muộn. Lâm Hổ chờ hắn ở nhà ăn, để riêng một chỗ trên bàn. Phần cơm của Bảo vẫn được giữ theo lời người thay ca; có rau, đậu và canh. Hắn ăn hết, rồi kể ngắn về sơ đồ.
“Chín vòng, một đường?” Hổ hỏi.
“Nhiều đoạn, nhiều người đi. Họ ghép lại.”
“Ngươi đã đi hết chưa?”
“Chưa.”
“Vậy ta không hỏi nữa.”
“Ngươi có thể hỏi.”
“Ta đang ăn.”
Bảo mua một chiếc bánh bằng tiền công đã nhận từ buổi trước, bẻ cho bạn nửa chiếc. Lương ghi cửa chưa tới kỳ. Hổ hỏi lần này có phải bánh công mua hộ không; hắn đáp đây là bánh mời, không ghi nợ.
Chiều, hắn tới nhà Mộc cùng tờ nháp. Lão đọc dòng *theo lời người giữ giấy*, hỏi bản có đường nối kín thành một vòng hay chỉ có nhiều đoạn. Bảo đáp có nhiều đoạn, vài đoạn liền, vài đoạn chấm; hắn không đo và chưa biết chúng có dùng cùng lúc hay không.
“Nhưng hội đã xếp các chuyến quanh chín vùng?” Mộc hỏi.
“Vâng. Người giữ giấy nói họ ghép đường từ nhiều người.”
Lão gấp tờ nháp, đưa lại. “Ngươi biết hội giữ tên và đường gần chín nơi. Đó là điều đáng nhớ. Còn mỗi nơi là gì, hỏi khi có người và giấy đủ để hỏi.”
Bảo muốn hỏi lão đã từng đi những đường ấy chưa. Mộc nhìn ra sân, nơi một người đang mang giỏ về. Lão nói: “Ta từng biết vài tên cũ. Ta không nhận đã nhìn tấm bản của họ.”
Hắn không ép thêm. Trước khi rời nhà, hắn hỏi nếu bản của hội có tên vùng gần Thái Huyền, có nên đưa chiếc nồi ra đối không. Mộc nói chưa cần; chiếc nồi đang ở phòng hắn, còn việc kiểm liên quan vẫn chưa kết thúc. Muốn đối tên thì bắt đầu bằng giấy và người giữ giấy.
Tối, Bảo kiểm Ô Kê và ăn cơm với rau, canh. Hắn đếm tiền trong khăn sau chiếc bánh trưa; các khoản chưa tới kỳ không được cộng. Về phòng, hắn đặt bản từ chối bán cạnh tờ nháp. Chiếc nồi vẫn bọc vải phía trong bàn.
Hắn vẽ chín vòng nhỏ thành một hàng, không đặt chúng lên vị trí của sơ đồ đã xem. Dưới hàng vòng, hắn ghi: *đường hội giữ — phải hỏi từng đoạn*.