Chương 194: Tên Người Ở Mép Bia
Người biết đọc chữ cũ tới khi Tạ Tiểu Bảo đang ăn bánh.
Ông đi cùng Lương, mang theo bản chép những nét trên bia mà Thanh Nghi và Bảo đã ghi. Hắn cất nửa chiếc bánh vào giấy, mời hai người ngồi dưới mái, rồi gọi Hứa Đồng. Sáng nay hắn đã ăn cháo, mua bánh bằng tiền trong khăn và kiểm nước cho Ô Kê trước ca.
“Ta chưa thấy bia thật,” người khách nói. “Ta chỉ xem nét các ngươi chép.”
Ông đặt hai bản cạnh nhau. Có một chữ Thanh Nghi và Bảo chép giống nhau, ông đọc được. Một chữ khác thiếu nét cuối, ông đưa ra hai khả năng, không chọn ngay. Ông chỉ một dòng dọc theo mép bia mà Bảo đã tưởng là tên thứ hai.
“Chữ đầu có thể là tên. Hai chữ sau giống lời ghi việc.”
“Việc gì?” Bảo hỏi.
“Ta đọc được một chữ gần như ‘phần’. Chữ trước còn thiếu nét.”
Thanh Nghi tới theo lời hẹn, mang bản của nàng. Nàng chỉ một vết mờ ở cạnh chữ: khi nắng chiếu xiên, vết ấy có thể là nét khắc hoặc một vết nứt. Người khách hỏi có ai từng chép bia trước không; ông Từ đã hỏi dưới núi nhưng chưa tìm được bản cũ.
“Con có thể mang giấy lên chép lại không?” Bảo hỏi.
“Được nếu người trông đường đồng ý và các ngươi không làm mòn mặt bia,” Hứa Đồng nói. “Nhưng hãy hỏi Dư An và xem lịch trước.”
Người khách nói có thể đi cùng khi đoàn được phép. Ông không nhận công thay Lương, cũng không yêu cầu Bảo đưa chiếc nồi. Lương nói hội sẽ trả công xem chữ của ông trong buổi này; nếu đi lên núi, cần thỏa thuận chuyến khác.
Người tiếp vận mang lời nhắn từ chân núi tới gần trưa. Người trông đường đồng ý cho ba người lần trước cùng một người biết chữ lên sân vào buổi sáng dự kiến. Người của ông sẽ đi cùng tới lối nước, cho phép nhặt lá rời và đặt dây đo trên mặt sân; không được nhấc đá hay cạo bia. Nếu trời mưa, chuyến phải hỏi lại.
“Ta không muốn ông ấy chỉ ngồi dưới chân núi chờ,” Bảo nói. “Người đi cùng có cần được trả công không?”
Người tiếp vận đáp ngoại viện đã hỏi mức công và người ấy đồng ý; nếu đổi thời gian phải báo. Hứa Đồng ghi tên người nhận việc, không viết thay việc của hội. Bảo xem giờ, hỏi người thay ca rồi ký đổi một lượt. Thanh Nghi tự đối lịch của mình với y vụ.
Sau ca, họ ăn cơm trưa với rau và canh. Hổ nghe chuyện đi lại hỏi có được đi không. Lần này người trông đường chỉ đồng ý số người vừa nêu; Hổ không muốn bắt họ xin thêm khi giờ đã sát. Hắn hỏi người coi khu nuôi có thể cùng trông Ô Kê trong buổi sáng không. Ông ấy đồng ý, dặn Hổ không tự mở chốt nếu chưa thấy người coi.
Hôm lên núi trời khô. Bảo ăn cháo, mua một chiếc bánh bằng tiền của mình, mang thêm nước. Thanh Nghi có sổ và phần ăn; ông Từ mang gậy. Người biết chữ đi cùng xe tới chân núi, người địa phương dẫn qua đoạn mình trông. Bảo không mang nồi; chiếc nồi vẫn bọc vải trong phòng, Mộc biết giờ hắn đi.
Dư An đã xem chân Bảo và Thanh Nghi trước chuyến. Ông nhắc nếu đau tăng thì dừng; không ai cần cố tới sân để giữ lời. Hai người đi chậm, nghỉ ở gốc cây như lần trước. Người biết chữ đợi cùng, không đi trước lên bia.
Sân đá vẫn có vũng nước ở góc. Người địa phương chỉ lớp lá rời trên rãnh. Bảo dùng tay nhặt từng nắm, đặt thành đống ngoài lối chảy; ông ấy giữ giỏ. Không ai nhấc phiến đá. Khi lá được lấy khỏi khe, nước chảy xuống một đoạn rồi dừng ở lớp đất thấp hơn.
“Con tưởng nó sẽ chảy hết,” Bảo nói.
“Đất còn chặn ở dưới,” người địa phương đáp. “Hôm nay ta chỉ cho nhặt lá. Muốn sửa rãnh phải xem chỗ nước sẽ tới.”
Bảo ghi đã dọn lá, nước chảy thêm một đoạn, còn đất chặn phía dưới. Hắn không ghi rãnh đã thông. Thanh Nghi đặt dây đo theo mép sân, ông Từ giữ một đầu; họ đo từ bệ tới bia và đọc số hai lần. Người địa phương xem dây không móc vào chân bia rồi mới giúp giữ đầu còn lại.
Người biết chữ đứng ở phía có ánh sáng. Ông chép nét từ trên xuống, dừng trước chỗ nghi là vết nứt. Khi mặt trời đổi góc, ông nhìn thấy nét khắc chạy qua vùng mờ, còn một phần vẫn mất. Ông đọc được cụm *giữ phần*, nhưng dòng tên phía trước chưa đủ để biết người đó là ai.
“Giữ phần gì?” Bảo hỏi.
“Bia không còn đủ chữ để ta trả lời.”
“Có phải phần ăn không?”
“Có thể. Ta chưa đọc được chữ chỉ thứ được giữ.”
Thanh Nghi hỏi liệu có thể là tên việc của một người trực. Ông nói có thể, nhưng chữ *trực* không hiện trong đoạn này. Nàng ghi giả thiết riêng, không chép vào dòng chữ trên bia.
Bảo đi quanh bệ, đếm từng phiến nhìn thấy. Có một khe hẹp ở cạnh thấp, hướng về phía rãnh nước. Hắn định lấy que khều lá trong khe; người địa phương bảo để ông xem trước. Ông cúi xuống, nhặt một chiếc lá nằm ngoài miệng khe, không đưa tay vào sâu.
“Nước có đi từ bệ ra rãnh không?” Bảo hỏi.
“Ta chưa thấy nước chảy từ đó. Khe có thể chỉ là chỗ ghép đá.”
Bảo nhìn vết đen trên bệ. Nếu từng có lửa ở đây, một cái nồi đặt lên có thể che gần hết khoảng giữa. Hắn nhớ chiếc nồi trong phòng nhưng không biết nó vừa hay không; hắn chưa đo nồi trong chuyến này và không mang nó tới.
Buổi trưa họ ăn phần mang theo dưới gốc cây. Bảo lấy chiếc bánh mua sáng, bẻ cho Thanh Nghi một miếng. Nàng nhận, đưa lại cho hắn ít rau gói trong lá. Người biết chữ ăn chậm, vừa ăn vừa nhìn bản nháp. Ông hỏi Bảo có từng thấy chữ *giữ phần* ở nơi khác không. Hắn nghĩ tới sổ Hứa Đồng có cột *phần còn lại*, nhưng đó là cột mới được kẻ, không phải chữ trên bia.
“Con thấy chữ gần giống trong sổ mới,” hắn nói. “Sổ ấy không chép từ bia.”
“Vậy đừng coi hai thứ đã cùng nghĩa.”
Ăn xong, họ trở lại bia. Thanh Nghi phát hiện một nét ngang dưới dòng tên, kéo qua hai chữ rồi mất ở mép đá. Người biết chữ nói chưa thể xác định đó là nét gạch tên hay một đường phân dòng. Bảo đưa ngón tay tới gần rồi rút lại, chỉ bằng đầu bút trên bản chép.
“Nếu là gạch tên, ai gạch?”
“Ta chưa biết nó có phải nét gạch không,” ông đáp.
Họ ghi vị trí nét và phần chưa rõ. Người địa phương hỏi còn cần bao lâu; mặt trời đã đổi phía, đường xuống vẫn còn đủ sáng. Thanh Nghi nói chân nàng bắt đầu mỏi. Bảo nhìn phần bia chưa chép, nhưng nhớ lời Dư An; họ khép sổ và trở xuống cùng nhau.
Dưới chân núi, người trông đường nghe báo về rãnh, nói sẽ xem phần đất chặn trước khi cho dọn tiếp. Người biết chữ hỏi bà lão từng nghe chuyện bếp cũ có thể kể lại không. Ông Từ nhận đưa lời; không ai hứa bà sẽ nhớ những cái tên.
Về ngoại viện, Hứa Đồng nhận bản chép, ghi rõ cụm *giữ phần* là kết quả đọc của người biết chữ từ nét còn lại. Ông hỏi có bằng chứng nào chiếc nồi của Bảo từng ở bệ không. Bảo đáp không; hắn chỉ nghĩ tới kích thước, chưa đo nồi hay đưa lên sân.
“Vậy câu hỏi ấy để riêng,” ông nói.
Lương xem bản đo, xin chép khoảng cách cho người giữ sơ đồ đối với tên vùng. Hứa Đồng cho xem phần đo với sự đồng ý của Thanh Nghi và người địa phương; Lương ghi nguồn, không mang bản gốc.
Hổ đợi ở khu nuôi. Ô Kê có nước, chốt vẫn đóng. Hắn kể con gà đã cố mổ dây áo mình, nhưng người coi kịp kéo hắn ra. Bảo hỏi:
“Ngươi không vào chuồng?”
“Ta đứng ngoài như đã hẹn.”
“Vậy tốt.”
“Ta vẫn bị mổ.”
“Dây áo ngươi vào trước.”
Tối, Bảo ăn cơm, rau và canh, không mua thêm bánh. Tiền trong khăn còn sau chiếc bánh sáng; chuyến khảo sát chưa có công riêng được hẹn. Hắn kiểm lại chốt rồi về phòng.
Chiếc nồi vẫn bọc vải trên bàn. Bảo đặt bản chép bia cạnh nó. Dòng *giữ phần* hiện trên giấy, còn chữ chỉ thứ được giữ để trống.