Chương 196: Người Còn Nhớ Đường Nước
Bà lão dưới chân núi không nhớ người trên bia.
Bà nói điều ấy ngay khi Tạ Tiểu Bảo, Lục Thanh Nghi và ông Từ tới cửa. Hôm nay trời không mưa; người trông đường đã báo lối tới nhà bà khô, không cần lên sân đá. Dư An xem chân Bảo và Thanh Nghi, dặn nếu đau tăng thì nghỉ. Lâm Hổ được bà đồng ý cho đi cùng và đã đổi giờ luyện.
Bảo mang bản chép những nét rõ, không mang chiếc nồi. Trước khi đi, hắn ăn cháo, mua một chiếc bánh bằng tiền lương vừa nhận và chia Hổ một miếng. Ô Kê được người coi khu nuôi nhận trông; Hổ không thể ghé chiều như lần trước nên hai người báo rõ giờ dự kiến về.
Bà lão mời họ ngồi dưới hiên. Trên bàn có một ấm nước và ba cái chén; ông Từ đi lấy thêm hai cái ở bếp. Bảo định hỏi về tên trên bia, nhưng bà đã đưa tay chỉ về dốc phía sau nhà.
“Cha ta gọi nơi ấy là sân bếp. Ông đưa ta tới một lần, khi ta còn thấp hơn cái bàn này.”
Bảo nhìn mặt bàn. “Bà còn nhớ ai nấu ở đó không?”
“Ta nhớ cha đun nước cho người đi đường. Còn trước cha, ta không biết.”
“Có cái nồi nào không?” Hổ hỏi.
“Có một ấm đồng và một cái nồi đất nhà ta mang lên. Lúc xuống, cha bảo ta cầm ấm.”
Bảo nhìn Thanh Nghi. Chuyện ấy không cho biết cái bệ được xây để dùng chiếc nồi nào, nhưng đã có một lần người ở chân núi dùng sân để đun nước. Hắn ghi: *bà nhớ cha mang nồi đất và ấm đồng*, rồi đọc lại.
“Ngươi viết thêm: ta không nhớ năm nào,” bà nói.
Hắn thêm. Nàng Thanh Nghi hỏi lối nước ở góc sân có từ khi bà còn nhỏ không. Bà nhìn ông Từ, hỏi đó có phải rãnh sát bờ cỏ. Ông đáp đúng theo chỗ đoàn đã thấy.
“Cha ta bảo đừng đổ nước bẩn vào đó,” bà nói. “Ông dùng một gáo lấy nước từ khe, đun xong mới chia cho người qua đường.”
“Nước ở khe chảy từ bệ ra?” Bảo hỏi.
“Ta không nhìn thấy từ đâu ra. Hôm ấy chỉ nhớ gáo nước và cha dặn.”
Hắn ghi lời dặn riêng với câu hỏi về nguồn nước. Bà nhìn tờ giấy, bật cười: “Ngươi để trống nhiều thế, lát nữa gió thổi bay chữ mất.”
“Con có đá chặn.”
Hắn lấy một viên sỏi nhỏ ở mép hiên, hỏi bà có thể dùng không. Bà đồng ý. Thanh Nghi đặt bản chép bia trước mặt bà, chỉ những nét đã đọc, không đọc sẵn thành tên người.
Bà lão nheo mắt. “Ta không đọc được chữ này. Cha từng kể có tên những người giữ bếp, nhưng ông cũng bảo không được tự thêm tên mình lên đá.”
“Bà nhớ bao nhiêu tên không?”
“Không. Ta nhớ ông chỉ một dòng gần mép, rồi bảo người tới sau cũng phải có phần nước.”
Bảo nhìn cụm *giữ phần* trên bản chép. Bà chưa nói đúng câu ấy; hắn ghi lời bà nhớ bằng câu riêng, không chép vào chữ trên bia. Thanh Nghi hỏi cha bà có nói ai là người tới sau không. Bà đáp chỉ nhớ người đi núi: người đến muộn, người chở hàng hay người xuống tìm nước đều được rót nếu còn.
“Nếu hết nước?” Bảo hỏi.
“Đun thêm. Nếu không đun được thì nói hết, đừng để người ta chờ một cái ấm không có nước.”
Hổ nhìn ấm trên bàn. “Bây giờ còn không?”
Bà mở nắp, nghiêng cho hắn xem. Còn nửa ấm. Hổ rót vào chén Bảo trước, rồi mới rót của mình. Bà lão bảo nếu muốn thêm phải ra giếng, nhưng chưa ai cần thêm.
Ông Từ hỏi về nét ngang trên bia. Bà nhớ có đường kẻ ngăn các phần chữ, nhưng không nhớ chính xác đường họ thấy có phải một trong những đường ấy. Bà đề nghị hỏi người thợ đá lớn tuổi ở xóm bên: ông từng giúp dựng lại một đoạn bờ gần sân, có thể nhớ mặt bia trước khi nghiêng.
“Ông ấy biết đọc không?” Thanh Nghi hỏi.
“Ta không biết. Nhưng ông biết đá.”
Bảo ghi tên người có thể hỏi và nơi bà chỉ. Hắn hỏi có thể kể lại lời bà cho Hứa Đồng và người biết chữ không. Bà đồng ý, dặn đừng viết rằng bà đã đọc tên. Hắn đưa tờ ghi cho ông Từ đọc lại; ông đọc chậm từng câu, bà sửa một chỗ từ *cha nấu cho đoàn hàng* thành *cha nấu cho người đi đường*.
“Có người của hội đi qua không?” Bảo hỏi.
“Ta không nhớ tên hội. Cha ta rót cho người nào tới, nếu có nước.”
Người giữ đường tới báo lối lên sân hôm nay có một phiến đá ướt, không nên đi nếu không cần. Đoàn vốn chỉ hẹn gặp bà nên không đổi đường. Bảo hỏi liệu ông có thể chỉ nơi nước xuống sau rãnh. Ông bảo có lối đi gần hiên, không phải leo sân; ông sẽ chỉ sau khi mọi người ăn trưa.
Bữa cơm của bà có rau, đậu và canh. Người địa phương đã chuẩn bị phần cho đoàn theo thỏa thuận với ngoại viện; Bảo hỏi bà đã để phần cho người mang nước chưa. Bà chỉ chiếc bát đậy bên bếp. Hắn ăn hết, không mua thêm bánh. Hổ chia hắn một miếng đậu; hắn hỏi bạn đủ chưa, Hổ bảo đủ.
Sau bữa, người giữ đường dẫn Bảo và Thanh Nghi nhìn một đoạn rãnh ở phía dưới. Ông Từ và Hổ đi cùng, nhưng bốn người không bước lên phiến đá ướt. Nước từ phía sân có thể chảy xuống một hõm đất, rồi theo một lối thấp về rìa vườn. Hôm nay họ thấy nước ở hõm, không thấy nó chảy từ miệng khe cạnh bệ.
“Muốn dọn đất chặn phải biết nước sẽ đi đâu,” người giữ đường nói. “Rìa vườn có người trồng rau.”
Ông chỉ người chủ vườn đang buộc dây ở cuối luống. Bảo hỏi có thể gặp bà để hỏi ý. Ông dẫn tới, nói trước việc đoàn muốn xem rãnh. Bà chủ vườn cho biết nước từng tràn vào luống sau một trận mưa lớn; bà không phản đối khơi lối cũ, nhưng muốn biết đất lấy ra để đâu và ai sửa nếu nước dồn về vườn.
“Con không tự khơi hôm nay,” Bảo nói. “Con ghi điều bà hỏi, nhờ người giữ đường bàn với bà.”
“Được. Đừng nói ta đã đồng ý cho đào.”
Hắn ghi đúng. Thanh Nghi hỏi có thể đo đoạn từ hõm tới mép vườn không. Người giữ đường nói hôm nay không mang dây; ông hẹn lần khác cùng chủ vườn xem. Bảo vẽ sơ một hõm và luống rau, ghi *không theo tỉ lệ*.
Khi trở lại hiên, bà lão gọi hắn. Bà đưa một chiếc gáo gỗ cũ, nói cha bà từng dùng loại giống thế để múc nước trên núi; chiếc này là của nhà, không phải vật lấy từ sân. Bảo cầm khi bà cho phép, thấy miệng gáo mòn một phía.
“Nó chứa bao nhiêu?” hắn hỏi.
“Ta chưa đong.”
“Con có thể thử không?”
Bà gật, lấy một bát thường dùng. Hắn rót nước từ gáo sang bát; vừa đầy bát, trong gáo còn một ít. Hắn định nói một gáo hơn một bát, rồi hỏi chiếc bát ấy có phải loại bà dùng ngày trước không. Bà cười: “Không. Bát cũ đã vỡ từ lâu.”
Hắn ghi phép thử của hôm nay, không dùng nó để tính nước cha bà từng chia. Hổ giúp bà mang gáo vào bếp, trả đúng chỗ bà chỉ.
Trời bắt đầu chuyển mây. Người giữ đường nhắc họ nên về trước khi đoạn đất thấp đọng nước. Đoàn chào bà lão; ông Từ hẹn hỏi người thợ đá vào hôm khác. Bà dặn nếu có ai đọc được một tên trên bia, hãy cho bà biết, bà muốn hỏi lại những người lớn tuổi trong xóm.
Về ngoại viện, Hứa Đồng nghe báo và nhận bản ghi. Ông tách lời kể của bà với điều đoàn trực tiếp thấy: bà nhớ cha mang nồi đất, dùng gáo và nhắc giữ nước cho người tới sau; đoàn thấy nước ở hõm, chưa thấy dòng từ bệ. Thanh Nghi đưa bản vẽ rãnh không theo tỉ lệ, chỉ cả vị trí luống rau và câu chủ vườn chưa đồng ý đào.
Lương ghé sau đó, xin nghe phần liên quan tên cũ của sân. Bảo kể khi bà đã đồng ý cho chuyển lời. Ông hỏi có thể chép câu *người tới sau cũng phải có phần nước* không; Hứa Đồng nói được nếu ghi đó là điều bà nhớ từ lời cha, không phải chữ đọc trên bia.
Chiều, Hổ về sân luyện. Bảo tới y vụ, báo chân hơi mỏi khi đi đường thấp; Dư An xem và dặn nghỉ, theo dõi nếu đau tăng. Hắn không nhận thêm chuyến ngay hôm sau.
Tối, hắn ăn cơm, rau và canh, kiểm Ô Kê rồi về phòng. Tiền còn sau chiếc bánh sáng; chuyến khảo sát chưa có khoản công riêng được hẹn. Chiếc nồi vẫn bọc vải trên bàn.
Bảo mở sổ, viết lời bà lão bên cạnh cụm chữ trên bia, giữa hai dòng kẻ một khoảng. Hắn đặt chiếc bút vào khoảng ấy, để hai lời không chạm nhau.