Chương 197: Vết Đen Dưới Đáy
Tạ Tiểu Bảo muốn biết chiếc nồi của mình có vừa bệ đá không.
Hắn không đem nó lên núi. Sáng hôm sau, hắn lấy bản đo Thanh Nghi đã ghi, đặt lên bàn cạnh lớp vải bọc nồi. Con số trên giấy là khoảng cách giữa bệ và bia; họ chưa đo mặt bệ theo cách có thể so với đáy nồi. Hắn nhìn một lúc rồi gấp giấy lại.
“Ngươi nhìn nồi có làm nó to hơn không?”
Lâm Hổ đứng ngoài cửa, cầm hai bát cháo. Bảo mở cửa cho bạn vào, nhận bát của mình rồi nhìn bát kia.
“Ngươi đã ăn chưa?”
“Bát này của ta.”
“Vậy tốt.”
Hắn lấy một đồng trong khăn mua hai chiếc bánh nhỏ ở nhà ăn; họ mang bát tới đó rồi ngồi dưới mái. Bảo đưa Hổ một chiếc, giữ chiếc còn lại. Đây là tiền lương và công đã nhận, không tính khoản nào chưa phát. Hổ bẻ bánh, hỏi sao hắn không đo nồi tại phòng.
“Ta muốn hỏi Mộc trước. Việc kiểm liên quan chưa xong.”
“Chỉ đo bên ngoài cũng phải hỏi?”
“Ta muốn biết có thể mở lớp vải không.”
“Ta tưởng ngươi chỉ nhìn qua vải.”
“Qua vải ta đo cả vải.”
Hổ cười, ăn hết chiếc bánh. Sau đó họ tới khu nuôi. Bảo thay nước, kiểm chốt cho Ô Kê; người coi khu nuôi nhận trông trong ca của hắn. Hổ đi sân luyện, còn Bảo tới phòng Hứa Đồng.
Trên sổ có lời báo từ người giữ đường: ông đã gặp chủ vườn, sẽ cùng một người biết rãnh xem nơi đất bị chặn. Chưa có ngày dọn, chưa có lời đồng ý đào. Bảo ghi ngày nhận, chuyển cho người tiếp vận. Hắn không viết rằng nước đã chảy từ bệ xuống vườn.
Tới giữa ca, Mộc Vô Nhai ghé. Bảo xin phép hỏi chuyện nồi sau giờ trực; lão đáp sẽ đợi ở nhà. Hứa Đồng nghe, nói nếu Bảo muốn đo bên ngoài, ông có thể cùng xem vì chiếc nồi và phần kim loại liên quan đang được theo dõi riêng. Không ai đề nghị đun hay thử tác dụng.
Sau ca, Bảo ăn trưa với Thanh Nghi: cơm, rau và canh. Nàng báo Dư An cho hai người tiếp tục việc gần, chưa định ngày lên núi. Người thợ đá ở xóm bên đã nhận lời gặp ông Từ, nhưng chưa gặp đoàn.
“Ngươi định đo nồi?” nàng hỏi.
“Nếu Mộc và Hứa Đồng đồng ý cách đo.”
“Ta có thể xem bản đo bệ khi ngươi xong. Nhưng khoảng cách tới bia không phải kích thước bệ.”
“Ta biết. Bởi vậy ta chưa so được.”
Nàng đề nghị trước hết ghi đường kính ngoài, chiều cao và người đo, không đo lòng nồi nếu không mở được. Bảo viết câu ấy vào giấy riêng. Hắn hỏi nàng có muốn tới xem không; nàng nói sẽ chờ ở phòng Hứa Đồng, nếu cần đọc số thì giúp, không tự cầm nồi.
Mộc tới phòng Bảo cùng Hứa Đồng sau bữa trưa. Lão xem chỗ cất, hỏi cửa có ai khác vào từ hôm hắn đi núi không. Bảo nói không thấy dấu thay đổi; người phòng bên đã báo Mộc lúc hắn về, không đưa ai vào. Ông Hứa nhìn lớp vải còn buộc, rồi hỏi Bảo muốn làm gì.
“Con muốn đo bên ngoài. Không đặt lên bệ, không đun.”
Mộc bảo có thể mở vải để đo cùng hai người, đặt nồi trên bàn vững, không chạm vào phần kim loại đang giữ riêng. Lão nhắc nếu thấy điều gì khác thường thì dừng, không cố tìm cách làm nó xảy ra lần nữa.
Bảo tháo nút vải. Chiếc nồi đen hiện ra, quai và miệng ở chỗ hắn vẫn nhớ. Hắn đặt tay lên quai, chờ Mộc xem vị trí đáy rồi mới nhấc vừa đủ để chuyển sang mặt bàn trống. Không có lửa hay nước bên trong được dùng; họ chỉ nhìn.
Hứa Đồng giữ một đầu dây đo mềm ở miệng nồi, Bảo đọc số tại đầu kia. Họ đo hai chiều để xem miệng có đều không. Thanh Nghi chờ ngoài cửa, nghe số rồi ghi khi được gọi; nàng đọc lại cho hai người đối. Sau đó Mộc nghiêng nồi vừa đủ để xem đáy, không tháo vật gì.
Ở đáy có vết đen loang, một chỗ nhạt hơn như bị cọ từ lâu. Bảo nhớ những lần nấu trên bếp ở Lạc Kê, nhưng không thể nói vết nào có từ khi nào. Hắn hỏi Mộc lão từng thấy vết ấy chưa.
“Ta đã thấy khi giữ nồi,” lão đáp. “Ta không biết nó xuất hiện trước chuyến đi của ngươi hay sau.”
“Có phải tro ở bệ trên núi không?”
“Ngươi chưa mang nồi tới đó.”
“Con biết.”
“Vậy ngươi biết câu trả lời.”
Bảo nhìn vết nhạt. “Con muốn biết trước khi con mang, có ai khác từng đem nó tới không.”
Mộc đặt nồi ngay lại. “Ta không có câu trả lời cho ngươi từ vết này.”
Hứa Đồng ghi kích thước và tình trạng nhìn thấy, thêm tên những người có mặt. Ông hỏi Bảo có muốn ông giữ bản đo không. Hắn đồng ý cho giữ bản sao, còn bản đầu đặt cùng giấy của mình. Mộc bọc lại nồi, để Bảo tự buộc nút.
Thanh Nghi nhìn những con số. “Muốn biết có vừa bệ không, lần tới phải đo phần mặt bệ. Nhưng vừa không chứng minh nồi từng ở đó.”
“Và không vừa thì sao?” Bảo hỏi.
“Cũng chỉ biết lần đo ấy không vừa.”
Hổ tới lúc họ đã bọc xong. Hắn nhìn chiếc nồi rồi hỏi có được xem không. Bảo nói hôm nay đã xong việc đo, không muốn mở lại; Hổ gật, hỏi bản số có thể xem không. Thanh Nghi đưa hắn bản nháp, chỉ chỗ đường kính và chiều cao.
“Cái nồi này chứa mấy bát?” hắn hỏi.
“Chưa đong.”
“Ngươi có số rồi mà.”
“Đó là số bên ngoài.”
“Vậy ta vẫn không biết.”
“Ta cũng vậy.”
Buổi chiều, ông Từ mang lời của người thợ đá. Ông ấy nhớ đã sửa bờ dưới sân nhiều năm trước, có thấy tấm bia nghiêng, nhưng không chạm vào bia. Ông đồng ý gặp đoàn ở chân núi sau khi xong việc tại xóm; chưa nhận lời lên sân.
Bảo hỏi ông Từ người trông đường đã bàn với chủ vườn về rãnh chưa. Ông nói hai người đã gặp nhau, dự định cùng xem khi đất khô hơn. Bà chủ vườn muốn biết đất lấy ra đặt ở đâu; hiện chưa có kế hoạch đào. Hứa Đồng ghi cuộc gặp, để chỗ kết quả còn trống.
Lương tới nhận phần bản chép được phép đưa người đọc chữ cũ. Ông báo bản gốc của hội vẫn chưa tìm được người chép; có một tên trên sổ giao nhận nhưng chưa biết có phải cùng người. Bảo hỏi liệu chữ *sau* có thể là tên người không. Ông nói người biết chữ sẽ xem khi có bản khác, hiện không đủ căn cứ.
“Cái nồi của ngươi có chữ không?” Lương hỏi.
Bảo nhìn Mộc rồi đáp: “Hôm nay chúng ta đo bên ngoài. Ta không cho mang đi.”
“Ta không xin mang. Ta hỏi vì trên một số vật cũ có dấu của thợ.”
“Con chưa biết vết ở đáy là gì.”
Lương gật, không hỏi tiếp. Ông nhận bản chép, hẹn báo khi người đọc xem xong. Bảo ghi nơi gửi lời vào tờ riêng, không đem số đo nồi đưa cho hội nếu chưa bàn với Hứa Đồng và Mộc.
Tối, Bảo ăn cơm, rau và canh cùng Hổ. Hắn không mua thêm bánh; tiền còn sau hai chiếc buổi sáng. Hổ hỏi ngày mai có thể giúp đo mặt bệ không. Bảo đáp chưa có chuyến, phải đợi chân hai người và người trông đường. Hổ nói hắn có thể ở lại chăm Ô Kê nếu người coi đồng ý; Bảo cảm ơn, chưa ghi tên bạn vào lịch.
Trước khi về phòng, hắn kiểm nước và chốt khu nuôi. Chiếc nồi vẫn bọc vải trên bàn. Bảo đặt bản đo bên ngoài cạnh bản chép bia, giữa chúng để tờ giấy trắng. Hắn viết lên đó một câu: *vừa bệ có nghĩa gì?*