Chương 198: Vết Của Người Thợ Đá
Người thợ đá tới ngoại viện cùng ông Từ.
Ông mang một cái thước gỗ cũ, đầu thước sứt một góc. Tạ Tiểu Bảo nhìn vết sứt rồi nhìn bàn tay ông: hai ngón có những đường trắng nhỏ như bột đá vẫn chưa rửa sạch.
“Thước của ông đo thiếu một góc,” Bảo nói.
“Ta không đo bằng góc ấy.”
Ông đặt thước lên bàn, chỉ vạch đầu tiên nằm cách mép sứt một khoảng. Bảo cúi xuống nhìn, định xin lỗi; người thợ đã đẩy một bát cháo về phía hắn.
“Ăn đi. Ông Từ nói ngươi sẽ tới sớm.”
Bảo hỏi phần ấy của ai. Ông Từ nói họ đã nhờ nhà ăn giữ phần sáng cho người đến bàn việc; người múc cho biết bát của Bảo được lấy theo phần thường. Hắn nhận, mua thêm một chiếc bánh bằng tiền trong khăn và chia người thợ một miếng. Ông ấy đã ăn, nhưng nhận vì muốn thử bánh ở đây.
Hứa Đồng và Thanh Nghi tới sau. Người thợ đá xem bản vẽ sân, nói mình từng dựng bờ dưới chân dốc, không xây bệ giữa sân. Hôm sửa bờ, ông thấy bia đã nghiêng; trên bia có một đường ngang, nhưng không nhớ nó đi qua dòng chữ nào.
“Ông có biết tại sao bia nghiêng không?” Thanh Nghi hỏi.
“Đất phía sau lún, hoặc nền dưới bia dịch. Ta không đào nên không biết.”
“Ông có thể nhìn mà biết cần chống thế nào không?”
“Có thể nhìn để bàn. Nếu muốn chống thật, phải xem nền và hỏi người giữ đất.”
Bảo chỉ lối nước trong bản vẽ. Người thợ nói bờ ông dựng để nước từ dốc không chảy thẳng vào lối đi; ông không làm rãnh sát bệ. Ông nhớ có một khe nhỏ ở cạnh nền, nhưng không nhớ khi ấy nước có chảy qua không.
“Ông có muốn lên xem lại không?” Bảo hỏi.
“Nếu người giữ đường đồng ý và ta có người phụ mang đồ. Ta không lên tay không rồi hứa sửa ngay.”
Ông Từ nói người giữ đường và chủ vườn đang hẹn ngày xem phần rãnh. Hứa Đồng đề nghị nếu các bên đồng ý, người thợ đi cùng để quan sát, còn việc sửa sẽ bàn sau khi biết nước dẫn tới đâu. Bảo ghi đề nghị và tên những người cần trả lời; hắn không ghi ông thợ đã nhận sửa.
Người thợ nhìn bản chép bia. “Ai muốn đọc chữ?”
“Con và Thanh Nghi. Một người biết chữ cũ đã xem, còn thiếu nét.”
“Đừng xát than vào bia. Chữ cũ có khi mất vì chính người muốn đọc.”
“Chúng con chỉ nhìn và chép.”
“Vậy tốt.”
Bảo nhớ Thanh Nghi từng hỏi dùng vải che nắng. Ông thợ nói nếu chỉ tạo bóng, không buộc vào bia và không chạm mặt đá thì có thể hỏi người giữ đường. Ông không tự thay người ấy cho phép.
Trước giờ trực, Bảo kiểm nước cho Ô Kê. Người coi khu nuôi nhận trông trong ca, báo con gà vẫn ăn phần như thường. Hắn quay về phòng Hứa Đồng, nhận sổ và lời hẹn: người trẻ của Nhất Dực Hội muốn gặp sau ca để nói về tuyến hàng gần vùng núi.
Trong ca, người tiếp vận mang tin chuyến thư về Lạc Kê đã được giao qua điểm hẹn. Người nhận tiếp báo sẽ đưa theo đường về làng khi có chuyến đi, chưa có tin đã tới. Bảo đọc tên người nhận, thấy khớp lời báo trước. Hắn cảm ơn, giữ mảnh giấy riêng, không viết thư đã tới làng.
Hứa Đồng hỏi hắn có muốn báo cho người trẻ về cuộc gặp thợ đá không. Bảo nói có thể kể lời thợ về bờ và bia, nhưng chưa muốn đưa bản đo nồi. Ông đồng ý để hắn tự quyết phần của mình; bản chép bia chung phải hỏi những người đã tham gia trước khi sao thêm.
Bữa trưa có cơm, rau và canh. Thanh Nghi kể Dư An bảo nàng có thể đi quãng gần, còn chuyến núi tiếp theo cần xem ngày, thời tiết và việc phải làm. Hổ đặt bát xuống hỏi thợ đá có thể biết bệ từng đặt nồi nào không.
“Ông ấy chưa nói,” Bảo đáp. “Ông không xây bệ.”
“Vậy tại sao hỏi ông?”
“Vì ông biết bờ đá mà ông đã làm.”
“Còn bệ?”
“Phải hỏi thêm.”
Sau ca, Bảo gặp người trẻ cùng Lương tại chỗ nghỉ. Họ đề nghị một buổi đối tuyến khác: tìm trong lịch chuyến những nơi người nhận yêu cầu đi vòng vì cửa gần không nhận hàng. Bà đối tiền viết công theo buổi, không yêu cầu Bảo đi núi hay nói về nồi. Hắn đọc, hỏi có được nghỉ khi chân mỏi không; bà ghi có. Hắn nhận buổi xem.
Lương trải hai tờ lịch. Một chuyến đi vòng qua điểm đổi người gần vùng núi, nhưng người gửi đã yêu cầu giao ở bến phía ngoài. Chuyến khác dừng gần vùng ấy vì người nhận không có giấy qua cửa gần. Bảo hỏi có ghi cửa đóng hay chỉ không nhận chuyến này. Lương chỉ dòng *chưa đủ giấy nhận*, không có chữ *đóng*.
“Vậy không thể viết cả cửa đóng,” Bảo nói.
“Đúng. Nhưng người thuê vẫn cần hàng ở phía bên kia.”
Người trẻ chỉ thêm một dòng cước đường vòng cao hơn chuyến ngắn. Bảo hỏi ai trả phần tăng. Bà đối tiền nói người thuê chuyến ấy đã đồng ý theo tờ giá; còn người nhận hàng chịu bao nhiêu là chuyện họ mua bán với nhau, không có trong phần giấy này.
“Người nhận có biết đường gần cần giấy không?”
“Ta chưa hỏi.”
Bảo viết câu hỏi, thêm tên người có thể hỏi. Hắn nhìn hai đường trên bản chép của mình: hội kiếm tiền từ việc đưa hàng đi vòng, nhưng hai phiếu trước mặt chỉ nói được hai chuyến, không cho biết tất cả người dùng đường có cùng lựa chọn hay không.
Lương hỏi hắn có muốn tới điểm nhận để nghe người ta nói không. Bảo đáp muốn, nhưng phải biết ngày, đường, công và ai trông Ô Kê. Ông cười, bảo chưa có chuyến; khi có sẽ đưa giấy.
Cuối buổi, bà đối tiền trả công theo thời gian đã hẹn. Bảo đếm và nhận bản xác nhận. Người trẻ hỏi hắn đã gặp thợ đá chưa. Hắn kể ông ấy dựng bờ, không xây bệ, và đã nhận lời bàn một chuyến xem. Ông không hỏi số đo nồi.
Trên đường về, Bảo ghé nhà Mộc. Hắn kể về hai phiếu: một người muốn giao ngoài, một người chưa đủ giấy. Lão hỏi hắn có định viết hội đóng cửa không. Hắn lắc đầu.
“Con thấy họ đi vòng. Con chưa thấy họ đóng cửa.”
“Còn người trả tiền?”
“Người thuê chuyến đồng ý giá. Con chưa biết người nhận có lựa chọn nào khác.”
Mộc đưa hắn một bát nước. “Vậy hỏi người nhận khi gặp.”
Bảo kể thêm chuyện thợ đá và vết dưới nồi. Hắn hỏi có nên mang nồi lên để đo cạnh bệ không. Lão nói không cần, ít nhất cho tới khi đoàn biết rõ họ muốn đo cái gì và người giữ đất đồng ý. Hơn nữa phần việc liên quan nồi còn đang được theo dõi; không ai vừa nghe một câu về bệ đã lấy nó đi.
“Con không muốn bán,” Bảo nói.
“Ta biết.”
“Nhưng con muốn biết nó dùng làm gì.”
“Ngươi từng nấu trong nó.”
“Con muốn biết trước khi nó ở nhà con.”
Mộc không trả lời. Lão đứng dậy lấy bát cơm đậy trên bàn, hỏi hắn đã ăn tối chưa. Bảo nói chưa; hai người tới nhà ăn, gặp Hổ đang chờ. Bữa tối có cơm, rau và canh. Hổ hỏi Bảo có nhận đủ công xem sổ không. Hắn đưa bản xác nhận cho bạn xem, rồi cất tiền riêng với khoản lương.
Trước khi về, Bảo kiểm nước và chốt cho Ô Kê. Trong phòng, chiếc nồi vẫn bọc vải. Hắn đặt tờ phiếu ghi *chưa đủ giấy nhận* cạnh bản chép bia có chữ *giữ phần*. Hai tờ khác nhau, nhưng đều có một khoảng chưa được người tới sau điền.