Chương 199: Phần Nước Qua Vườn
Người giữ đường và bà chủ vườn đã chọn được ngày xem rãnh.
Ông Từ mang lời tới ngoại viện: đất đã se mặt, người thợ đá có thể lên cùng một người phụ. Bà chủ vườn muốn xem nơi đất lấy ra sẽ đặt trước khi quyết có cho khơi tiếp hay không. Thanh Nghi và Tạ Tiểu Bảo được mời đi cùng để chỉ chỗ đã thấy trên sân.
Hứa Đồng đưa họ xem tờ ghi việc. Chuyến này có người địa phương chịu trách nhiệm rãnh; Bảo và Thanh Nghi quan sát, ghi điều các bên thống nhất. Không ai được nhấc đá ở bệ hoặc cạo bia. Nếu trời đổi hoặc chân không chịu được, đoàn sẽ dừng.
Dư An xem hai người trước hôm đi, nhắc việc lên dốc khác ngồi ghi sổ. Cả hai nói đã nghỉ sau chuyến trước, có thể thử theo đường cũ và sẽ báo nếu đau tăng. Ông Từ đã hỏi người hỗ trợ ở chân núi; người ấy nhận chờ tới giờ hẹn, công chờ được tính trong thỏa thuận của ngoại viện.
Bảo sắp ca bù với người cùng trực, ghi ngày đi và người thay. Hổ muốn theo nhưng phải làm việc ở sân; hắn nhận ghé khu nuôi cùng người coi. Bảo không mang chiếc nồi hay phần kim loại đang giữ riêng. Hắn khóa phòng, nhờ Mộc để ý như trước.
Sáng lên đường, hắn ăn cháo, mua một chiếc bánh bằng tiền trong khăn. Hổ không kịp tới, nhưng gửi một mảnh giấy qua người coi khu nuôi: *Ô Kê đã uống nước, ta sẽ kiểm chiều*. Bảo tới xác nhận với người coi, thấy chốt đã đóng rồi mới đi.
Xe đưa đoàn tới chân núi. Người thợ đá mang thước, dây và túi dụng cụ; người phụ xách túi. Bảo hỏi có cần hắn giữ thước không. Ông đáp có thể giữ khi đo, không cần khiêng túi lên dốc. Thanh Nghi ngồi gần cửa xe, có chỗ duỗi chân; ông Từ dẫn đường.
Ở mái dưới, bà chủ vườn và người giữ đường đã chờ. Bà chỉ một góc đất bỏ trống cạnh lối, nói có thể tạm đặt lá và ít đất rời ở đó, nhưng không được đổ xuống luống rau. Người thợ hỏi nếu gặp đá lớn thì sao. Bà đáp phải dừng bàn tiếp; hôm nay bà chưa đồng ý nhấc đá.
Đoàn lên sân chậm, nghỉ một lần dưới cây. Bảo nhìn bệ đá và tấm bia nghiêng như lần trước. Vũng nước ở góc đã nhỏ hơn, nhưng trong rãnh vẫn có đất và lá mới. Người giữ đường dùng que chỉ ranh giới có thể nhặt lá, không đưa que vào khe cạnh bệ.
Bảo cùng người phụ nhặt lá rời, đổ vào giỏ. Thanh Nghi giữ dây đo, người thợ đặt thước ở đoạn rãnh thấp rồi đọc số. Bà chủ vườn đứng ở phía lối xuống, chỉ mép luống của mình. Họ không đo từ trí nhớ; Bảo ghi số và tên người đọc, để Thanh Nghi đối lại.
“Nếu khơi chỗ này, nước đi đâu?” Bảo hỏi.
Người thợ chỉ một hõm thấp phía dưới. “Mặt đất nghiêng về đó. Nhưng muốn chắc phải xem nước đi tiếp qua đâu, nhất là lúc mưa lớn.”
Bà chủ vườn nói trận trước nước tràn vào luống vì lá bị dồn ở một chỗ. Ông giữ đường bảo có thể làm sạch lá tới hõm trước, để đất nguyên; sau cơn mưa họ cùng xem. Bà đồng ý với việc nhặt lá, chưa đồng ý đào sâu.
Thanh Nghi đọc lại lời bà, Bảo ghi riêng việc đã làm và việc còn chờ. Hổ không ở đây để hỏi người tới sau có nước không; hắn nghĩ tới câu ấy nhưng không ghi thành điều bà đã nói.
Người thợ vòng quanh bệ, quỳ xuống nhìn khe hẹp cạnh thấp. Ông không đưa dụng cụ vào. Vết ghép đá chạy tới gần một rãnh nông, rồi bị đất che. Ông hỏi người giữ đường có từng thấy nước rỉ từ khe không. Người ấy đáp chưa từng đứng ở đây khi mưa lớn; lúc khô chỉ thấy đá sẫm.
“Có thể đây là đường nước,” người thợ nói. “Cũng có thể là khe ghép. Ta cần xem khi có nước, nhưng không đổ nước vào bệ nếu chưa biết phía dưới.”
Bảo nhìn mặt bệ. Những phiến xếp quanh một khoảng giữa, mặt đã mòn. Hắn hỏi có thể đo chiều rộng khoảng ấy không. Người giữ đường cho phép đặt dây trên mặt đá, không móc vào khe. Thanh Nghi và người phụ giữ hai đầu; người thợ đọc số, Bảo ghi.
Hắn so ngay với số đo ngoài miệng nồi trong túi. Khoảng giữa bệ rộng hơn miệng nồi; các cạnh không tròn đều, còn chiều sâu hắn chưa biết. Hắn không cần đặt nồi lên để thấy một cái nồi như của mình có thể nằm trong khoảng rộng ấy, nhưng điều đó không chứng minh nó từng ở đây.
“Có nhiều nồi vừa,” Thanh Nghi nói.
“Cả cái nồi đất cha bà lão mang lên,” Bảo đáp.
“Ta chưa biết kích thước nồi đất ấy.”
“Vậy con sửa: có thể có nhiều nồi vừa.”
Người thợ nghe xong, chỉ một chỗ mặt đá phẳng hơn. “Nếu ai đặt vật nóng ở đây, sức nặng không chỉ nằm ở khoảng giữa. Phải xem cả chỗ kê.”
Bảo nhìn vết đen nhạt và khoảng đá phẳng, rồi ghi câu của ông cùng nguồn. Hắn hỏi ông có nhận ra dấu thợ ở bệ không. Ông nói những nét mình thấy giống vết sửa qua nhiều lần, không thấy dấu riêng đủ rõ để nhận người làm.
Đến giờ ăn, họ ngồi dưới cây. Người phụ mang phần của thợ, người giữ đường có phần của mình; Bảo ăn bánh mua sáng cùng cơm nắm ngoại viện chuẩn bị. Hắn hỏi bà chủ vườn đã ăn chưa, bà chỉ chiếc bát đậy trong giỏ. Thanh Nghi chia hắn một ít rau muối; hắn nhận rồi đưa nàng nửa chiếc bánh còn lại.
Sau bữa, bà chủ vườn cùng người giữ đường đi xuống xem hõm và lối tới luống. Bảo, Thanh Nghi đi cùng, còn thợ ở sân cùng người phụ quan sát bia. Bà cho biết chỗ đặt đất tạm có thể dùng nếu đất không chảy lại vào vườn. Ông giữ đường nhận việc hỏi người biết nước; hai người sẽ cùng xem sau mưa. Bảo không hứa việc sửa rãnh do ngoại viện trả hay làm thay họ.
Khi trở lên sân, người thợ chỉ nền phía sau bia. Ông thấy đất thấp ở một phía, có thể góp phần làm bia nghiêng, nhưng chưa xem dưới chân bia. Ông khuyên không tự chống bằng đá rời vì có thể làm bia lệch thêm; nếu cần chống, phải bàn cách và người làm.
“Chữ trên bia có mất thêm không?” Thanh Nghi hỏi.
“Ta thấy một vết nứt cũ. Ta không có bản trước để so.”
Bảo đưa bản chép của người biết chữ khi ông muốn xem. Ông thợ chỉ nét ngang mà đoàn đã thấy, nói nó được khắc nông hơn một số nét chữ nhưng không thể xác định đó là gạch tên hay đường phân dòng. Hắn ghi lời ấy riêng với bản chữ, không dùng nó để chọn một nghĩa.
Mặt trời tới ngọn cây, đoàn xuống đúng giờ hẹn. Người hỗ trợ ở mái dưới đã nhận tin ba người cần nghỉ; họ ngồi uống nước rồi mới lên xe. Không ai phải ở lại. Bà chủ vườn hẹn sau cơn mưa sẽ báo người giữ đường điều bà thấy, chứ không hẹn kết quả rãnh đã thông.
Về ngoại viện, Dư An hỏi chân Bảo và Thanh Nghi. Hắn nói hơi căng khi xuống dốc, đã nghỉ và không đau tăng. Nàng cũng báo phần việc của mình. Hứa Đồng nhận bản ghi, đọc số bệ rồi đặt cạnh số đo ngoài nồi.
“Ngươi muốn viết kết luận gì?” ông hỏi.
“Khoảng giữa bệ rộng hơn miệng nồi của con. Chúng con không đặt nồi lên và không biết nồi từng ở đó không.”
Ông ghi đúng, thêm người đo và ngày. Lương của hội xin xem số bệ để đối tên điểm, nhưng Bảo giữ số nồi riêng; Lương chỉ chép phần được Hứa Đồng và những người đo đồng ý.
Tối, Hổ báo Ô Kê đã uống nước, người coi vẫn giữ chốt. Bảo kiểm lại, cảm ơn cả hai rồi ăn cơm với rau và canh. Hắn không mua thêm bánh; tiền trong khăn còn sau chiếc bánh sáng, chuyến khảo sát chưa có khoản công riêng được hẹn.
Trong phòng, nồi vẫn bọc vải. Bảo đặt hai tờ số đo cạnh nhau. Trên một tờ là khoảng giữa của bệ; trên tờ kia là miệng nồi. Hắn để khoảng trắng giữa chúng, đặt thước gỗ của mình ngang qua mép bàn.