Chương 200: Đến Sau Vẫn Có Phần
Đêm ấy trời đổ mưa.
Tạ Tiểu Bảo đang ngủ thì nghe tiếng nước gõ lên mái. Hắn tỉnh giấc, ngồi một lát trên giường, rồi nhớ tới cái hõm dưới sân đá. Hắn không thể biết nước ở đó đang chảy thế nào. Trời tối, đường núi trơn; bà chủ vườn và người giữ đường đã hẹn với nhau sau mưa, không hẹn hắn lên xem ngay.
Hắn kéo chiếc chăn gần hơn và nằm xuống. Trước khi nhắm mắt, hắn còn nghe tiếng nước chảy qua máng ngoài hiên ngoại viện.
Sáng ra, mưa vẫn chưa dứt. Nước từ mái rơi xuống chiếc chum cạnh bếp, đầy tới gần miệng. Người nấu cơm lấy gáo múc bớt sang thùng rửa rau. Bảo đứng chờ phần cháo, đưa tay giữ nắp thùng giúp bà.
“Đầy rồi à?” hắn hỏi.
“Đầy lúc gần sáng. Còn mưa nữa thì phải tìm chỗ đựng khác.”
Bảo nhìn dòng nước từ máng chảy xuống. Khi thùng thứ hai đầy, phần thừa theo rãnh nhỏ ra sân. Một chiếc lá mắc ở miệng rãnh làm nước dâng lên mặt gạch. Hắn nhặt lá bỏ vào giỏ rác, nước lại chảy đi.
Việc ấy rất nhỏ. Nhưng lúc ngồi ăn cháo, hắn nhớ người thợ đá nói phải xem nước đi tiếp qua đâu. Một cái rãnh đưa nước ra khỏi sân có thể là đường đưa nước vào vườn người khác.
Thanh Nghi tới sau, áo ngoài còn ướt ở vai. Nàng ngồi đối diện, nhận bát cháo của mình.
“Ông Từ gửi lời,” nàng nói. “Người giữ đường bảo mưa còn lớn, đợi tạnh rồi mới lên. Bà chủ vườn đã biết.”
Bảo gật đầu. Hắn hỏi nàng đã nhờ ai trông chỗ trực hôm trước chưa. Thanh Nghi nói đã đổi ca, hôm nay làm buổi chiều. Hắn cũng phải tới cửa ngoại viện, nên ăn xong thì mang sổ đi làm.
Buổi sáng có hai người đội mưa tới xin nhận hàng. Một người đã hẹn giờ, người kia đi cùng nhưng không có tên trong giấy. Bảo mời họ đứng dưới mái, gọi người phụ trách ra kiểm. Người không có tên nói mình chỉ đến giúp khiêng; chủ hàng xác nhận sau khi được hỏi. Bảo ghi cả hai người cùng giờ họ vào, không tự sửa giấy nhận hàng.
Gần trưa, một bà già tới cửa với giỏ rau phủ lá. Bà hỏi đường sang bếp, nói đã giao rau ở đó mấy lần nhưng chưa quen lối mới. Bảo nhờ người trực cùng giữ cửa rồi đưa bà tới đoạn hành lang nhìn thấy mái bếp. Chân hắn hơi căng lúc đi nhanh, nên lúc quay lại đi chậm hơn.
Người nấu cơm nhận giỏ, trả lại bà chiếc khăn phủ. Bà già đi qua cửa lần nữa, thấy mưa đã nhỏ thì không đứng chờ. Bảo nhìn theo bà tới đầu đường, rồi trở về chỗ ngồi.
Cuối ca, Hứa Đồng gọi hắn sang. Trên bàn có một tờ giấy ướt mép, đã được đặt dưới chặn giấy cho phẳng.
“Người giữ đường nhờ chuyển tin,” ông nói. “Ông ấy và bà chủ vườn đã lên sân sau khi mưa ngớt. Có nước chảy qua hõm xuống vườn. Lá mới lại dồn ở đoạn hẹp; họ đã nhặt ra, không động tới đá.”
Bảo đọc chậm tờ giấy. Người viết còn ghi nước vào luống dưới nhiều hơn bình thường, nhưng không nói tất cả đều từ sân đá. Bà chủ vườn muốn người thợ tới xem trước khi quyết định có khơi rãnh hay không.
“Ông Từ đi được chứ ạ?”
“Ông ấy đã nhận lời dẫn thợ. Ngươi và Thanh Nghi có thể đi nếu sắp được việc, không bắt buộc.”
Bảo hỏi ngày giờ. Hứa Đồng nói còn phải chờ thợ trả lời; chuyện tiền công của thợ do người giữ đường và bà chủ vườn bàn với nhau. Ngoại viện không nhận sửa rãnh. Bảo viết một dòng vào sổ riêng để nhớ, không ghi thành chuyến khảo sát đã được trả công.
Hứa Đồng nhìn cuốn sổ của hắn. “Ngươi muốn đi vì cái bệ?”
“Vì cả nước nữa. Lần trước chúng con chỉ đứng lúc trời khô.”
“Được. Đi thì nhìn việc của mình, đừng nhận lời thay người khác.”
Bảo đáp vâng. Trên đường về, hắn gặp Mộc đang thu mấy tấm vải phơi dưới mái. Mộc nói phần kim loại vẫn cất riêng, chưa ai hỏi lấy. Hắn cảm ơn, về phòng kiểm chiếc nồi còn bọc nguyên. Không có lý do gì mang nó ra dưới mưa.
Chiều hôm sau, ông Từ đưa tin người thợ rảnh vào sáng kế tiếp. Bảo đổi ca, còn Thanh Nghi xin nghỉ buổi sáng và nhận trực bù. Dư An nghe họ định đi, xem lại chân hai người rồi dặn nếu đường trơn thì quay xuống. Hổ dúi cho Bảo hai chiếc bánh, nói bếp cho người làm sân, hắn để lại được một phần.
“Ngươi ăn chưa?” Bảo hỏi.
“Ăn rồi. Cái này là phần ta nhận, không phải lấy của ai.”
Bảo nhận một chiếc, trả hắn chiếc còn lại. “Ta có cơm nắm. Ngươi giữ mà ăn lúc nghỉ.”
Hổ nhìn chiếc bánh, cuối cùng cất vào tay áo. “Ô Kê ta đã nhờ người coi xem cùng. Hôm nay ta còn phải quét sân.”
Sáng lên núi, đất ở đoạn dốc dưới cây vẫn mềm. Người thợ đi trước, dùng gậy thử chỗ đặt chân. Ông Từ đỡ Thanh Nghi qua một đoạn trơn; Bảo tự đi chậm phía sau. Tới mái dưới, họ nghỉ cho ráo bùn trên đế giày rồi mới lên sân.
Bà chủ vườn đã có mặt cùng người giữ đường. Bên cạnh bà là một thiếu niên xách giỏ lá. Bà giới thiệu đó là cháu mình, sáng qua đã cùng bà nhìn nước trong vườn. Cậu chỉ nói đoạn nào tự thấy, còn đoạn trên sân do ông giữ đường kể.
Ở hõm đất, lá mới đã được nhặt gọn, nhưng vệt nước vẫn còn trên mặt bùn. Người thợ ngồi xuống nhìn hướng vệt ấy, rồi cùng bà chủ vườn đi dọc lối xuống. Bảo và Thanh Nghi theo sau, không bước vào luống.
Một đoạn bờ đất thấp hơn phần còn lại. Nước từ hõm có thể qua đó vào góc vườn; phía bên kia cũng có một rãnh nhỏ từ sườn dốc chảy xuống. Người thợ nói muốn phân biệt lượng nước của từng đường thì phải xem lúc đang mưa, nhưng chỗ bờ thấp có thể sửa trước nếu chủ vườn đồng ý.
Bà hỏi sửa thế nào, cần lấy đất ở đâu. Ông đề nghị đắp bằng đất sạch, chừa lối cho nước chảy về phía rãnh cũ, rồi quan sát thêm. Ông không bảo việc đó sẽ giải quyết hết nước trong vườn. Người giữ đường nói có thể giúp tìm đất, còn công làm và giờ làm để ông bàn riêng với bà.
Bảo ghi lời từng người vào giấy. Thiếu niên nhìn hắn viết, hỏi: “Ghi thế thì nước có bớt không?”
“Chỉ ghi thì không bớt,” Bảo đáp. “Nhưng hôm khác quay lại, chúng ta biết đã thấy gì và đã làm gì.”
Cậu ngẫm một lúc, rồi chỉ đoạn rãnh bên sườn. “Hôm qua nước bên này cũng đục. Chỗ đó không chảy từ cái sân xuống.”
Bảo hỏi cậu thấy vào lúc nào. Cậu nhớ là sau bữa sáng, khi bà gọi ra xem rau. Hắn ghi thời điểm theo lời cậu, đưa cho Thanh Nghi đọc lại. Nàng hỏi thêm bà chủ vườn, bà xác nhận có gọi cháu nhưng mình đứng ở phía luống khác. Hai lời được ghi riêng.
Trên sân, người thợ nhìn khe cạnh bệ. Một đường ẩm chạy từ phía ấy tới gần rãnh nông, nhưng mưa cũng đã làm ướt mặt đá xung quanh. Ông nói không thể chỉ theo vệt ẩm mà kết luận nước đi từ trong bệ ra. Người giữ đường đồng ý để ông xem mặt ngoài, chưa cho cạy khe hay nhấc phiến đá.
Thanh Nghi đứng cạnh tấm bia, đưa tay che mưa còn đọng trên cành nhỏ. Nàng gọi Bảo tới. Dưới hai chữ “giữ phần”, ở mép đá thấp, có một nét nông trước đó bị đất bám che gần hết. Người thợ lấy bàn chải mềm phủi lớp đất rời trên mặt theo sự đồng ý của người giữ đường. Nét lộ rõ hơn, nhưng vẫn không đủ thành chữ.
“Có thể chép lại hình nét,” Thanh Nghi nói. “Đừng thêm phần đã mất.”
Bảo đặt giấy trên đầu gối, vẽ lại đúng chỗ họ nhìn thấy. Hắn ghi người thợ phủi đất rời, còn chỗ sứt không ai động vào. Bản vẽ không cho họ biết câu trên bia từng dài bao nhiêu.
Người giữ đường kể lúc còn nhỏ từng nghe cha nói sân này có chỗ đặt nước cho người đi đường. Ông không nhớ cha nói đó là bệ hiện tại hay một chỗ khác gần sân. Bảo xin phép ghi cả điều ông không nhớ. Người giữ đường bật cười, bảo ghi như vậy mới đúng lời ông.
Đến trưa, họ ngồi dưới mái. Bà chủ vườn mang cơm cho mình và cháu, người thợ mở gói bánh, ông Từ có bình nước. Bảo lấy cơm nắm và chiếc bánh Hổ cho. Thiếu niên nhìn bánh của hắn, rồi vội quay đi.
Bảo hỏi cậu đã đủ ăn chưa. Cậu nói đã ăn phần của mình, chỉ đang đợi bà lấy thêm nước. Bảo định bẻ bánh nhưng dừng lại, đưa cả chiếc ra hỏi cậu có muốn nhận không. Cậu nhìn bà; bà gật đầu, nói sẽ nhận nửa chiếc nếu hắn còn ăn.
Bảo bẻ bánh. Một nửa hắn ăn cùng cơm, nửa kia đưa cậu. Ông Từ rót thêm nước cho mọi người. Khi bình gần cạn, bà chủ vườn lấy bình của mình đặt cạnh đó.
“Đường xuống còn xa,” bà nói. “Để một ít cho người về sau.”
Bảo nhìn hai chiếc bình. Lời bà giống điều hắn từng nghe kể về nồi nước của cha bà lão, nhưng hôm nay bà đang nói về bình nước trước mặt. Hắn không hỏi bà có biết chiếc nồi ấy không; lát nữa vẫn còn việc phải bàn.
Sau bữa, bà chủ vườn đồng ý cho đắp đoạn bờ thấp bằng đất sạch, chưa đồng ý đào rãnh sâu hay nhấc đá. Người giữ đường nhận tìm đất và hẹn lại giờ với bà. Người thợ sẽ tới xem sau khi đắp, công của ông đã được hai bên nói riêng. Thanh Nghi đọc lại từng việc; bà và ông giữ đường sửa một chỗ về vị trí đặt đất trước khi Bảo chép bản cuối.
Lúc xuống núi, thiếu niên mang giỏ lá về phía vườn. Bảo định xách giúp, nhưng cậu nói giỏ nhẹ và đường của cậu rẽ sang bên. Hắn nhường đường để cậu đi trước.
Về tới ngoại viện, Hứa Đồng nhận bản ghi. Ông xem hình nét trên bia, hỏi có ai nhận đó là chữ không. Bảo đáp không; người thợ cũng chỉ nói nét nông đã lộ sau khi phủi đất rời. Ông đặt bản vẽ cùng những tờ khảo sát trước, không ghép nó vào câu trên bia.
Tối đó, Hổ tới hỏi bánh có ngon không. Bảo kể đã chia một nửa cho người cháu của bà chủ vườn. Hổ hỏi cậu bé có đói không; hắn nói không biết, chỉ biết cậu đã nhận sau khi bà đồng ý.
“Thế ngươi còn đủ ăn?”
“Có cơm nắm nữa.”
Hổ yên tâm, kéo ghế ngồi xuống. Một lát sau hắn nói người coi khu nuôi nhờ báo Ô Kê đã ăn, nhưng cái chốt cửa hơi lỏng; sáng mai người coi sẽ tìm người sửa. Hai người cùng tới xem, xác nhận cửa vẫn đóng, rồi báo lại chỗ chốt cho người trực tối.
Trở về phòng, Bảo đặt bản sao việc sửa bờ cạnh hai tờ số đo. Hắn lấy bút viết thêm ở mép giấy: “Sau mưa, xem lại nước.” Đó là việc còn phải làm, không phải kết luận về chiếc nồi.
Ngoài cửa sổ, nước trên mái nhỏ từng giọt xuống chum. Chum chưa đầy. Hắn để chiếc gáo bên cạnh, chừa chỗ cho người dậy sau dùng.