Chương 201: Chiếc Bát Đặt Bên Cửa
Sáng hôm sau, chiếc chum dưới mái đã đầy.
Tạ Tiểu Bảo xách hai thùng nước vào bếp. Người nấu cơm thấy hắn đi chậm thì bảo để thùng thứ hai cho người khác. Hắn đặt xuống, không cố xách tiếp. Chân đã đỡ nhiều, nhưng hôm qua lên núi rồi lại đi xem Ô Kê, đến tối đầu gối vẫn hơi căng.
Ở sân nuôi, người thợ sửa chốt đang tháo miếng gỗ cũ. Ô Kê đứng sau tấm lưới, nghiêng đầu nhìn từng động tác của ông. Lâm Hổ đứng ngoài giữ chiếc hộp đinh. Mỗi lần thợ cần, hắn mới đưa một chiếc, không tự thò tay qua cửa.
“Cái này mòn ở lỗ,” người thợ nói, giơ chốt lên. “Đóng lại cũng được một thời gian, nhưng thay miếng mới thì chắc hơn.”
Người coi khu nuôi đồng ý. Ông thợ đo đoạn gỗ, nói phải về xưởng lấy một thanh phù hợp. Trước khi đi, ông lắp tạm miếng cũ để cửa đóng được; người coi kiểm lại, đặt thêm vật chắn phía ngoài và hẹn giờ ông trở lại. Bảo đứng nhìn, không mở cửa gọi gà.
Hổ hỏi: “Ta trông ở đây tới lúc ông ấy về nhé?”
“Ngươi còn ca ở sân,” người coi đáp. “Ta ở đây được. Lúc cần giữ đồ, ta sẽ gọi.”
Hổ nhìn Ô Kê rồi gật đầu. Bảo cùng hắn đi ăn sáng. Trong bát cháo của mỗi người có ít rau và một miếng trứng; Hổ ăn xong còn nhìn miếng trứng của Bảo, nhưng không hỏi xin. Bảo đẩy bát ra giữa bàn.
“Ngươi muốn ăn thêm thì lấy một nửa.”
“Ngươi không đói à?”
“Có. Ta chia vì ta muốn chia, không phải vì ăn không hết.”
Hổ bẻ đôi miếng trứng, đặt nửa lớn lại vào bát hắn. Bảo định đổi nhưng thấy Hổ đã cúi xuống ăn, đành thôi. Hắn nhớ tối qua để chiếc gáo bên chum; sáng nay người dậy sau quả thật có nước dùng, nhưng chẳng ai vì thế mà biết đến hai chữ trên tấm bia.
Sau ca trực, Hứa Đồng gọi hắn và Thanh Nghi tới phòng ghi chép. Ông Từ cũng ở đó, trước mặt đặt một cuốn sổ cũ được bọc giấy. Bìa sổ không có hình chín vòng tròn, chỉ viết tên một tuyến đường mà Bảo chưa từng đi.
“Lương của hội tìm được cuốn này khi đối lại danh sách điểm nghỉ,” ông Từ nói. “Người giữ sổ cho phép chép một đoạn liên quan tới sân đá. Cuốn này không được mang ra khỏi phòng.”
Hứa Đồng mở tới trang đã đánh dấu. Trên giấy có danh sách những thứ từng đặt ở các điểm nghỉ: gáo, thùng, chiếu và vài chiếc bát. Cạnh mỗi dòng là tên người nhận hoặc người mang tới. Bảo cúi đọc, tới gần cuối trang thì dừng lại.
Một dòng nhắc tới sân trên núi và chiếc bát đặt cạnh cửa mái dưới. Số lượng ghi là một. Bên dưới có chữ viết nhỏ hơn: “đến sau dùng”.
Bảo đọc lần thứ hai. Hắn muốn hỏi chiếc bát có liên quan gì tới nồi của mình, nhưng trên giấy không nhắc đến nồi. Trang sổ cũng không cho biết chiếc bát do ai đặt ở đó ban đầu. Tên bên cạnh là tên người nhận bát trong một lần kiểm điểm, không nhất thiết là người làm ra hay mang tới đầu tiên.
“Người viết dòng nhỏ là ai?” Thanh Nghi hỏi.
Ông Từ chỉ vào phần cuối trang. Có hai tên ký, một người đã viết danh sách, người còn lại đối số. Chữ nhỏ khác với chữ ở dòng chính, nhưng chỉ nhìn trang này không đủ biết là của ai. Hứa Đồng cho họ chép cả dòng, cả hai tên, và ghi rõ chỗ còn nghi.
Bảo hỏi mượn một tờ giấy. Hắn chép chậm, viết cả ngày ghi trong sổ rồi đọc lại cho Thanh Nghi đối. Nàng sửa giúp hắn một nét trong tên tuyến đường. Hắn khoanh chỗ sửa, viết lại bên cạnh, không xóa dấu cũ.
“Chỉ có một cái bát?” hắn hỏi.
“Theo dòng này là một cái được kiểm tại lần ấy,” ông Từ đáp. “Không nói trước đó hay sau đó có bao nhiêu.”
Bảo ngẩng lên. “Nếu một người giữ bát không cho người khác dùng thì sao?”
Ông Từ chống tay lên bàn. “Trong sổ này không kể chuyện ấy. Nhưng ngươi có thể hỏi người giữ đường xem ở mái dưới bây giờ còn bát không, ai chịu rửa, ai có thể dùng. Hỏi xong chưa chắc sẽ biết chuyện cũ.”
Thanh Nghi bật cười nhẹ. “Ông ấy hỏi được một câu mà con lại thấy thêm bốn việc.”
“Cô có muốn đi hỏi cùng không?” Bảo nói.
“Muốn. Nhưng hôm nay ta phải trực chiều.”
Hứa Đồng khép sổ, trả lại cho ông Từ. Bảo giữ bản chép của mình, còn một bản đưa Hứa Đồng lưu cùng các giấy khảo sát. Ông Từ bảo sẽ nhờ người chuyển lời tới người giữ đường; không ai định đi ngay trong ngày.
Ra khỏi phòng, Bảo gặp Mộc dưới hiên. Mộc mang một giỏ bát sứ sứt miệng tới bếp, nói người quản bếp muốn chọn cái còn dùng được cho việc rửa rau. Hắn nhìn đống bát, thấy một chiếc đã nứt từ miệng xuống gần đáy.
“Nếu đựng nước thì có rò không?” hắn hỏi.
“Chưa thử. Người quản bếp sẽ xem từng cái.”
Bảo giúp Mộc giữ giỏ khi người quản bếp kiểm. Một chiếc chỉ sứt ở chân được giữ lại; chiếc nứt thì để riêng, chờ người có việc khác dùng. Mộc ghi số nhận và số còn lại trên mảnh giấy kẹp giỏ. Không ai mang bát hỏng đặt ở chỗ uống nước chỉ vì muốn có thêm một chiếc bát.
Buổi chiều, người thợ trở lại sân nuôi với miếng gỗ mới. Hổ được gọi tới giữ hộp đinh. Người coi mở cửa trong lúc Bảo đứng chặn lối ra ngoài; Ô Kê được đưa sang ngăn bên cạnh trước khi thợ bắt đầu. Khi sửa xong, người coi thử chốt nhiều lần rồi mới chuyển gà về.
Ô Kê bước qua cửa, mổ một hạt thóc rơi gần máng. Hổ hỏi đã chắc chưa. Người thợ bảo chốt mới giữ được cửa, nhưng bản lề phía dưới cũng đã cũ; ông chỉ kiểm phần chốt trong việc hôm nay, còn bản lề nên báo để người quản lý xem tiếp.
Bảo ghi lời ấy cho người coi. Hổ nhìn bản lề hồi lâu, cuối cùng chỉ nhặt hạt thóc còn sót đặt vào máng. Hắn không tháo thử bất cứ thứ gì.
Tối, ông Từ mang tin từ người giữ đường. Mái dưới hiện có một gáo và một chum nhỏ; cái bát cũ đã mất từ lâu, ông không biết mất năm nào. Nước trong chum do người qua lại góp khi có thể, còn bà chủ vườn thỉnh thoảng rửa gáo. Sau trận mưa, bà bảo chum bị lá rơi vào, sẽ rửa lúc rảnh. Đó là lời ông giữ đường kể, Bảo chưa hỏi bà.
Kèm lời nhắn là một câu khác: người giữ đường tìm thấy một thùng gỗ cũ trong kho, muốn nhờ thợ xem có dùng chứa nước được không. Ông chưa định đặt thùng lên sân và cũng chưa xin ngoại viện cung cấp nước.
Bảo nghe xong, xin ông Từ chuyển lời cảm ơn. Hắn định nói mình có thể mang chiếc nồi tới, nhưng bàn tay vừa chạm vào mép túi đã dừng lại. Nồi có thể đựng nước, còn thùng gỗ có dùng được hay không thì người thợ sẽ xem. Hai chuyện ấy không buộc phải giải quyết bằng cùng một vật.
Đêm xuống, Thanh Nghi tới trả cuốn bút hắn cho mượn. Hắn kể lại chuyện chum, gáo và chiếc thùng cũ. Nàng đọc dòng “đến sau dùng” trên bản chép, rồi hỏi: “Ngươi đang nghĩ gì?”
“Lúc nhìn bệ đá, ta cứ muốn biết nồi của ta có vừa không. Hôm nay đọc đến cái bát, ta lại nghĩ có khi người ta cần biết ai rửa nó hơn.”
“Cũng cần biết có nước để đổ vào không.”
Bảo gật đầu. “Và người rửa có muốn nhận việc ấy không.”
Thanh Nghi đặt bút xuống. “Chúng ta có thể hỏi bà chủ vườn khi gặp. Còn cuốn sổ này chỉ nói về cái bát ở một thời điểm.”
Hắn nhìn nàng, rồi nhìn tờ giấy. “Ta biết. Nhưng một câu ngắn mà người viết vẫn chừa chỗ cho người đến sau.”
Nàng không đáp ngay. Ngoài hiên, có tiếng ai kéo chiếc thùng rỗng vào tránh sương. Thanh Nghi đứng dậy giúp giữ cửa, để người ấy đi qua, sau đó mới trở về phòng.
Bảo gấp bản chép đặt cùng những giấy khác. Chiếc nồi vẫn nằm trong lớp vải dưới gầm giường. Hắn không đưa nó lên bệ, cũng chưa tìm được câu trả lời về nguồn gốc của nó. Ngày mai hắn còn ca ở cửa; nếu người giữ đường nhắn ngày đắp bờ, hắn sẽ xem mình có thể tới giúp hay không.