Chương 202: Một Nồi Chia Mấy Phần
“Cái thùng không giữ được nước.”
Ông Từ đặt lên bàn một mảnh giấy gấp tư. Người giữ đường nhờ ông chuyển lời: thợ mộc đã thử chiếc thùng cũ, nước rỉ ra ở hai khe đáy. Muốn sửa phải thay ít nhất một thanh gỗ; ông thợ cần xem kho còn thanh nào vừa không.
Tạ Tiểu Bảo nghe xong, lấy chiếc khăn lau nước trên tay. Hắn vừa giúp người nấu cơm chuyển nồi cháo xuống bếp, mùi gạo còn bám trên tay áo.
“Chum nhỏ ở mái dưới thì sao ạ?”
“Bà chủ vườn đã rửa. Bà nhờ nói lại rằng ngày mai đắp bờ, nếu trời không mưa.”
Hôm sau Bảo trực buổi sáng. Hắn hỏi có thể tới sau giờ ăn trưa không. Ông Từ nói sẽ hỏi người giữ đường, nhưng việc đắp bờ do người ở đó thu xếp; họ chưa nhờ ngoại viện cử người.
Thanh Nghi ngồi cạnh cửa sổ, nghe tới đây bèn đặt bút xuống. “Con cũng muốn đi. Hôm qua cháu bà ấy chỉ con rãnh trên sườn, con muốn xem chỗ đắp có chắn đường nước ấy không.”
“Được,” ông Từ nói. “Ta hỏi cả hai người. Các ngươi chuẩn bị đổi ca trước, đừng để người khác chờ ở cửa.”
Ông đi rồi, Bảo tiếp tục chép số hàng vào sổ. Một lát sau, Thanh Nghi đẩy tờ giấy của nàng sang. Ở giữa là hình chiếc bát nàng chép từ cuốn sổ cũ, bên cạnh viết “đến sau dùng”. Nàng đã vẽ thêm một đường nối tới hình mái dưới, rồi gạch đường ấy.
“Vì sao cô gạch?” Bảo hỏi.
“Ta nhớ ông Từ nói cái bát đặt cạnh cửa mái dưới. Nhưng trong sổ chỉ viết ‘cửa mái’, không viết mái dưới hay mái trên. Ông ấy đang hỏi người giữ sổ xem tuyến ấy có bao nhiêu mái.”
Bảo lấy bản chép của mình ra. Hắn cũng đã ghi “mái dưới” ở dòng giải thích, bèn thêm một dấu hỏi. Nếu chờ thêm vài ngày mà biết được, hắn sẽ sửa; nếu không biết, dấu hỏi ấy vẫn phải ở đó.
Giữa trưa, người coi khu nuôi tới báo bản lề cửa sẽ được thợ xem vào ngày kế. Hổ nghe tin, hỏi có cần chuyển Ô Kê sang ngăn bên cạnh lần nữa không. Người coi bảo đợi thợ nhìn trước, chưa nhất thiết phải tháo cửa. Hổ đi cùng Bảo ra sân, đứng nhìn bản lề một lúc rồi theo người coi dọn máng.
Trên đường về bếp, Bảo gặp một người gánh hai giỏ củi. Quai giỏ bên trái bị tuột, củi rơi vương ra lối. Hắn cúi giúp nhặt, lựa những thanh không dính bùn đặt lại lên trên. Người gánh củi buộc quai, cảm ơn rồi đi tiếp; Bảo nhận ra mình đã quá giờ ăn một khắc, vội bước về phía bếp.
Trong nồi chỉ còn một ít cháo dưới đáy. Hắn chần chừ trước chiếc vá. Sau lưng có tiếng dép chạy, một đứa nhỏ làm việc ở sân bước tới, tay còn ôm bó giẻ. Nó nhìn vào nồi rồi nhìn hắn.
“Ngươi ăn chưa?” Bảo hỏi.
Đứa nhỏ lắc đầu. Nó tên A Thất, mới sang phụ rửa sân được vài hôm. Bảo từng thấy người coi chia việc cho nó nhưng chưa nói chuyện nhiều.
Hắn nghiêng nồi. Cháo còn hơn một bát nếu múc khéo, nhưng không đủ đầy hai bát. Hắn múc trước cho A Thất một nửa, rồi lấy phần còn lại. Đứa nhỏ giữ bát bằng hai tay, chờ hắn ngồi xuống mới ăn.
“Có bánh không?” nó hỏi.
“Ta không mang.”
A Thất nhìn quanh, như định hỏi thêm, rồi im. Bảo cũng đói. Hắn vét đáy bát, nghe tiếng thìa chạm sành. Người nấu cơm từ kho đi ra, thấy hai bát liền bảo vẫn còn nửa rổ khoai luộc để ở bàn trong. Bà lấy hai củ, đưa mỗi người một củ.
“Ta tưởng hết rồi,” Bảo nói.
“Cháo hết, khoai chưa hết.” Bà nhìn chiếc nồi đáy sạch. “Lần sau không thấy thì cứ hỏi.”
A Thất bóc khoai nóng, thổi một hồi rồi ăn. Bảo cắn một miếng, nghĩ tới trang sổ ghi một cái bát. Trong sổ không có gì nói người đến sau được ăn no; chỉ có chỗ ghi họ có thể dùng bát. Một cái bát để sẵn vẫn cần người mang thức ăn tới, và người chia phải biết còn bao nhiêu.
Chiều ấy ông Từ đem tin lên: bà chủ vườn đồng ý cho Bảo và Thanh Nghi đến sau giờ ăn, nếu họ muốn giúp. Người giữ đường sẽ chuẩn bị đất, còn cậu cháu của bà mang xẻng nhỏ. Công việc không thuộc chuyến kiểm tuyến của hội; ông nhắc rõ điều đó trước khi hai người thu xếp.
Bảo hỏi Thanh Nghi có chắc chân chịu được không. Nàng đáp sẽ mang theo gậy, tới nơi rồi chọn việc vừa sức. Hắn xin đổi nửa ca chiều; người đổi cùng chấp nhận sau khi Hứa Đồng xác nhận lịch.
Trưa hôm sau, họ tới mái dưới. Chum đã được rửa sạch, úp trên hai viên đá cho ráo. Bà chủ vườn ngồi đan lại quai giỏ bên cạnh. Cậu cháu đang giữ một đầu dây, thấy Bảo thì đứng lên gọi người giữ đường.
Người giữ đường từ phía vườn bước ra, tay áo xắn cao. Ông chỉ đoạn bờ thấp đã được dọn cỏ. Đất sạch để trong hai giỏ, lấy từ chỗ bà chủ vườn đã đồng ý. Họ sẽ đắp một lớp trước, để đất se rồi mới nén thêm.
Bảo nhận việc chuyển từng ít đất từ giỏ tới bờ, không bê cả giỏ. Thanh Nghi ngồi trên tấm gỗ kê ở lối, dùng que đánh dấu mép rãnh theo lời bà chủ vườn. Cậu cháu tưới ít nước cho đất bám, người giữ đường dùng mặt xẻng nén. Có lúc Bảo định lấy thêm đất, bà bảo dừng vì đắp cao quá sẽ dồn nước sang lối đi. Hắn đặt đất xuống, cùng mọi người nhìn lại.
Công việc đến xế chiều mới tạm xong. Đoạn bờ mới còn sẫm màu, thấp dần về phía rãnh cũ. Người thợ đã hẹn hôm khác đến xem; bà chủ vườn muốn đợi một trận mưa trước khi quyết làm thêm. Bảo rửa tay ở thùng nước do bà đem ra, không đổ nước bẩn vào chum uống.
Lúc nghỉ, cậu cháu hỏi hắn chuyện cái bát. Bảo nói trong sổ của hội có ghi một chiếc, nhưng vị trí chính xác còn đang đối lại. Cậu bảo bà mình giữ một mảnh bát cũ, từng nhặt gần mái, có thể mang cho xem.
Bà chủ vườn nghe vậy liền lắc đầu. “Mảnh ấy ta nhặt trong đất sau nhà, cách mái một quãng. Đừng kể thành nhặt ngay ở cửa.”
Cậu đỏ mặt, sửa lại. Bà vào nhà mang ra một mảnh sành màu nâu. Mép vỡ đã mòn; mặt trong có hai vạch khắc sát nhau. Bà nói từng giữ vì thấy lạ, không biết nó thuộc chiếc bát nào. Bảo nhìn hai vạch, rồi nhìn Thanh Nghi. Cả hai đều nhớ tấm bia, nhưng trên bia chỉ còn một nét nông chưa thành chữ. Hai vạch trên mảnh sành không giống một bằng chứng có thể nối chúng lại.
“Bà có thể cho con vẽ lại không?” Thanh Nghi hỏi.
Bà đặt mảnh sành trên tấm ván. Nàng vẽ đường cong, đánh dấu chỗ vỡ và hai vạch; Bảo ghi nơi bà nói đã nhặt. Cậu cháu ngồi cạnh, giúp giữ mép giấy khỏi cuộn. Xong việc, bà cất mảnh sành về túi vải của mình.
Người giữ đường chợt nhớ cuốn sổ khác trong kho dưới chân núi. Ông nói đó là sổ chi tiêu của trạm cũ, có lần ông dùng giấy lót đáy rương rồi cất lại. Mấy trang đầu bị ẩm, nhưng ông nhớ một trang có hình bếp và những nét chia quanh nó. Ông không biết sổ còn đọc được bao nhiêu.
Bảo hỏi có thể xem không. Ông giữ đường gật đầu, hẹn sáng mai mang lên mái dưới. Ông muốn nhờ Thanh Nghi đọc giúp những chỗ chữ mờ, còn cuốn sổ vẫn thuộc kho của trạm.
Trên đường xuống, Bảo đi cạnh Thanh Nghi. Nắng cuối ngày phủ một vệt vàng lên dây buộc giấy trong tay nàng. Hắn hỏi nếu trong sổ thật có hình bếp chia phần thì có phải chiếc nồi của hắn là đồ dùng của trạm không.
“Có thể người ta vẽ cách chia thức ăn,” nàng nói. “Cũng có thể là thứ khác. Ngày mai đọc đã.”
Bảo không hỏi tiếp. Hắn đã biết cảm giác chờ một nồi cháo: nếu cứ mở nắp khi lửa chưa đủ, gạo cũng không chín nhanh hơn. Nhưng lần này hắn muốn sáng tới sớm.
Tối về, hắn kể cho Hổ chuyện hai bát cháo và hai củ khoai. Hổ hỏi A Thất có nhận hết củ của mình không. Bảo bảo có; Hổ yên tâm, rồi kể người coi đã chuẩn bị ngăn bên cạnh phòng khi ngày mai phải sửa bản lề. Hai người ăn hết phần cơm tối trước khi đi xem Ô Kê.
Trong phòng, Bảo kéo chiếc nồi bọc vải ra khỏi gầm giường. Hắn không mở lớp vải, chỉ đặt tay lên mặt ngoài. Nếu một ngày biết chiếc nồi dùng để chia phần, hắn vẫn muốn biết ai sẽ có phần, ai chịu nhóm lửa, và người đến sau có còn gì để ăn.
Sáng mai, cuốn sổ ở kho trạm có thể chỉ cho hắn một cách hỏi.