Chương 205: Dòng Chuyển Sang Lượt Sau
Người giữ đường gửi đến ngoại viện một mảnh giấy có ba con số.
Tạ Tiểu Bảo nhận nó từ tay ông Từ vào cuối ca sáng. Giấy được xé từ một tờ cũ, mặt sau còn dấu mực của một phép tính. Người giữ đường nhờ ông Từ nói lại: ông đã tìm được trang tiếp theo của cuốn sổ trạm, bị dính vào bìa sau. Ba số ấy nằm dưới cùng một dấu với hai hàng trong trang bếp.
Bảo đặt mảnh giấy cạnh bản chép của Lương. Trong sổ hội, dấu gần giống dùng cho hàng chuyển sang lượt sau. Nếu sổ trạm dùng cùng cách, các con số này có thể là những phần chưa dùng ở lượt trước. Nhưng mảnh giấy chỉ có số, không có tên cột.
“Ông ấy cho mình chép tiếp không?” hắn hỏi.
“Ông ấy nhờ con và Thanh Nghi tới xem,” ông Từ đáp. “Có điều lần này ông muốn đem cả trang nợ ra hỏi người thợ. Ông đã tìm được con trai người từng sửa mái.”
Bảo ngẩng lên. “Người ấy tới trạm sao?”
“Ông ấy không tiện đi xa. Người giữ đường sẽ mang sổ tới nhà. Hai người có thể đi cùng nếu sắp được ca.”
Hứa Đồng xem lịch trực rồi cho Bảo nghỉ buổi chiều. Hắn sẽ bù vào sáng hôm sau; Thanh Nghi cũng đổi được giờ với người cùng phòng. Họ mang theo bản chép câu về bếp, giấy nháp và bút, không mang cuốn sổ của hội hay chiếc nồi.
Trước khi đi, Bảo ăn cơm với đậu và canh cải. Người nấu cơm đưa thêm cho mỗi người một nắm cơm nhỏ, bảo buổi chiều đường xa, nếu về muộn thì ăn. Hắn hỏi có cần trả tiền không. Bà nói đó là phần ăn trong ngày của hai người, đã báo với Hứa Đồng. Bảo cất cơm vào khăn, không mua bánh.
Người giữ đường đợi ở chân núi. Cuốn sổ đã được gói lại, đặt trong chiếc hộp gỗ vừa đóng. Ông nói thợ mộc làm hộp lấy ít tiền hơn dự tính vì dùng gỗ thừa; ông đã trả bằng tiền của trạm và giữ biên nhận. Chiếc thùng rỉ nước vẫn chưa sửa, phải đợi tìm được thanh đáy phù hợp.
Nhà người thợ nằm qua một con suối cạn. Con trai ông, một người đàn ông đã có tóc bạc ở thái dương, mở cửa. Hắn tên Trình, vẫn làm nghề mộc, trên tay còn cầm miếng gỗ đang bào dở.
“Cha ta mất lâu rồi,” Trình nói khi nghe chuyện. “Sổ của ông để lại chưa chắc còn đủ, nhưng ta sẽ tìm.”
Hắn mời họ vào gian ngoài. Người giữ đường đặt hộp lên bàn, kể rõ khoản tiền ghi trong sổ trạm. Có tên cha Trình, số tiền công sửa mái và một dấu giống dấu chỉ đã trả ở hai dòng khác. Riêng dòng này có thêm số tiền nhỏ hơn, nhưng thiếu ngày.
Trình nhìn hồi lâu. “Cha ta có lần kể người ở trạm thiếu tiền công, rồi trả bằng gạo. Ta không nhớ là lần sửa mái nào.”
Người giữ đường hỏi nhà còn giữ giấy nhận gạo không. Trình lắc đầu, mở chiếc rương cạnh tường và lấy ra một túi giấy buộc dây. Có giấy mua gỗ, phiếu trả đinh và vài mảnh sổ đã rời gáy. Hắn xếp từng thứ ra bàn, đặt những tờ không liên quan sang bên.
Bảo thấy một tờ ghi tên trạm, cùng ngày sửa mái trong cuốn sổ. Trên đó có số tiền đã nhận, số gạo đã nhận và một dòng còn lại. Nét bút của phần cuối khác phần đầu, nhưng dưới cùng có chữ ký của cha Trình.
Trình đọc chậm rồi lấy ngón tay chặn ở mép giấy. “Khoản còn lại được nhận sau ba ngày. Đây là chữ của cha ta.”
Người giữ đường nhìn kỹ ngày và chữ ký, đối với trang trong sổ trạm. Khoản tiền nhỏ hơn chính là số còn thiếu sau lần trả đầu; dấu không phải dấu báo trả hết, mà đánh dấu số chuyển sang lần sau.
Ông lấy giấy riêng ghi kết quả đối chiếu, không viết lên cuốn sổ cũ. Trình ký tên dưới lời xác nhận đã xem giấy của cha. Người giữ đường hỏi có thể chép tờ ấy không; Trình đồng ý, nhưng muốn giữ bản gốc. Thanh Nghi chép, đọc lại cho cả hai nghe. Bảo viết thêm ngày họ gặp và nơi giữ từng bản.
Khi việc tiền công xong, người giữ đường mở trang bếp. Ông xin Trình xem dấu trước hai hàng số. Trình nói trong giấy của cha hắn, dấu tương tự thường đặt trước khoản chuyển sang lần nhận kế. Hắn không biết sổ bếp có tuân theo cùng một cách ghi không, nhưng có thể xem trang sau để đối.
Trang sau ghi một số bát đã múc vào buổi khác. Dưới dòng đầu có hai số bằng hai số ở cuối trang trước, đặt cạnh chữ “chuyển”. Một trong ba số ông Từ mang tới là tổng của hai số ấy; hai số còn lại là từng phần riêng.
Bảo đặt bút xuống. Lần trước hắn trừ cả hai hàng khỏi tổng rồi tự điền một số bị mờ. Cách ấy cho ra kết quả bằng số cuối trang, nhưng trang sau cho thấy hai hàng được mang tiếp sang lượt khác. Hắn lấy tờ nháp cũ, ghi ngày và lý do sửa dưới phép tính đã gạch.
Thanh Nghi đọc các cột còn lại. Một cột ghi gạo đưa vào, cột thứ hai ghi số bát, cột cuối ghi người nhận việc giữ phần. Hai hàng chuyển sang lượt sau không có tên người nhận riêng; người ghi khoanh chúng chung với một dòng: “chờ người trực kế”.
“Người trực kế đến chưa?” Bảo hỏi.
Trình chỉ trang sau. Bên cạnh chữ “đã nhận” có một dấu tay nhạt. Nhưng dòng tên bị mực lem, không đọc được. Có người đã ghi nhận, còn người ấy là ai thì trang giấy không nói rõ.
Người giữ đường nhìn mảnh giấy một hồi. “Nếu người trực kế không tới, hai phần ấy ở đâu?”
Không ai trả lời được. Bảo nhớ bát cháo vét đáy nồi hôm nọ, rồi nhớ người nấu cơm vẫn để khoai trong rổ. Hắn hỏi trang sau có ghi phần còn lại bằng gạo, cháo hay một thứ khác không. Thanh Nghi đọc lại: số bát được ghi ở một cột, nhưng chữ chỉ thứ chứa trong bát đã mất cạnh vết ẩm.
Trình đem bình trà ra. Hắn bảo cha mình từng nhận sửa cả mái bếp lẫn bệ kê nồi, nhưng không nhớ bệ nào. Người giữ đường hỏi có bản vẽ hay giấy nhận việc không. Trình tìm trong túi một lượt nữa, chỉ thấy tờ sửa mái. Hắn hẹn khi dọn lại rương sẽ để ý, không hứa tìm được.
Bảo xin chép phần “chờ người trực kế”. Người giữ đường đồng ý, miễn ghi rõ đó là bản chép trang sau của sổ trạm. Trình nhìn theo nét bút, chợt nói: “Cha ta hay bảo đi làm phải có người nhận việc. Nếu thợ sau đến mà không biết mình nhận phần nào, mái dột rồi chẳng biết hỏi ai.”
Người giữ đường gật đầu. Ông không sửa câu đó thành lời ghi trong sổ; Bảo cũng chỉ nhớ, không chép vào bản đối chiếu.
Họ ăn nắm cơm ngoài sân trước khi về. Trình mang ra một đĩa muối vừng, mời mỗi người chấm. Bảo đã định để nửa nắm tới tối, nhưng đi từ sáng nên đói. Hắn ăn hết, cảm ơn rồi hỏi có thể giúp Trình thu giấy không. Trình bảo hắn giữ hộ đầu dây buộc túi; những giấy tờ còn lại Trình tự xếp.
Về ngoại viện, Thanh Nghi đọc bản chép cho Hứa Đồng. Ông xem hai trang được đối, rồi đặt tờ phép tính cũ bên cạnh.
“Con thấy gì?” ông hỏi Bảo.
“Hai hàng này chuyển sang lượt sau. Phép trừ của con hôm trước không đúng với cách hai trang ghi. Còn phần bị mờ, con vẫn không biết là số nào.”
“Vậy đừng dùng số ấy.”
Hứa Đồng ghi vào bản lưu: dấu chuyển được đối bằng trang kế và giấy tiền công, còn chữ về thứ đựng trong bát chưa đọc được. Ông để riêng thông tin tiền công theo ý người giữ đường và Trình, không gửi bản ấy cho hội.
Ông Từ nhận bản chép câu “chờ người trực kế” để hỏi người giữ sổ cũ của hội. Bảo hỏi liệu có tìm được tên người trực trong các giấy của hội không. Ông nói sẽ hỏi, nhưng chưa biết hội có giữ sổ của trạm ấy hay không.
Tối, Hổ kể Ô Kê đã ăn hết phần thóc và người coi đang chờ mua thêm cám. Bảo cùng hắn tới xem, thấy máng nước còn đầy, cửa đã chốt. Hai người trở lại bếp ăn cơm với bí luộc; Bảo nhận phần của mình, không mua thêm thức ăn.
Trong phòng, hắn lấy hai bản chép và tờ nháp ra. Hắn không xé phép tính cũ. Ở dưới số đã gạch, hắn kẻ một mũi tên sang dòng mới, viết: “Hai phần chuyển sang lượt sau.”
Bên cạnh dòng ấy, hắn để trống chỗ tên người trực.