Chương 206: Chỗ Nhận Ca
Ngày mưa trở lại, bờ đất mới đắp giữ được phần lớn nước ở ngoài luống rau.
Người giữ đường đưa tin ấy qua ông Từ, kèm theo lời bà chủ vườn: nước từ sườn dốc vẫn chảy vào góc dưới, nhưng không còn dồn thành dòng lớn như trước. Bà muốn chờ thêm một trận mưa nữa rồi mới quyết có sửa tiếp. Người thợ đã xem bờ, đồng ý nó không chắn lối đi.
Tạ Tiểu Bảo nhận tờ giấy, đặt cạnh bản ghi ngày đắp đất. Hắn viết thêm ngày bà chủ vườn quan sát, không ghi rằng cả khu vườn đã hết ngập. Ông Từ nhìn hắn viết, nói bà cũng nhờ cảm ơn Thanh Nghi và hắn vì hôm trước tới giúp.
“Còn chiếc thùng gỗ?” Bảo hỏi.
“Trình tìm được một thanh vừa đáy, đã nhận sửa. Người giữ đường trả tiền vật liệu, còn công sẽ tính sau khi thùng giữ được nước.”
Hôm ấy Bảo trực cửa tới trưa. Hắn ăn cơm với trứng hấp và rau, nhận phần của mình ở bếp. A Thất ngồi cạnh, kể hôm qua người coi đã chỉ chỗ cất chổi để nó không phải chạy đi tìm. Bảo nhớ lần hai người chia đáy nồi cháo, hỏi nó hôm nay có kịp giờ ăn không. A Thất giơ bát còn gần đầy, bảo người coi cho nó nghỉ sớm hơn một khắc.
Sau bữa, Hứa Đồng gọi Bảo và Thanh Nghi tới phòng ghi chép. Ông Từ đang đợi cùng một người đàn bà lớn tuổi, tay xách túi vải đã sờn. Ông giới thiệu bà là người từng giữ sổ tuyến cho Nhất Dực Hội. Bà đã thôi việc, hiện sống cùng con gái ở thị trấn; hôm nay tới ngoại viện vì tiện đường thăm người quen.
Bảo lấy bản chép câu “chờ người trực kế” đưa bà xem. Bà đeo kính, đọc một lượt rồi hỏi mượn bút. Bên dưới câu ấy, bà vẽ một dấu cong giống dấu ở hai hàng số, thêm một nét nhỏ ở cuối.
“Ta từng dùng dấu này khi giao hàng qua hai lượt xe,” bà nói. “Người nhận lượt trước ký ở đầu dòng, người nhận lượt sau ký bên dưới. Nhưng đây là cách của ta, không thể bảo ai cũng dùng như vậy.”
Thanh Nghi đặt bản chép trang sau cạnh đó. “Trong sổ trạm có chữ ‘đã nhận’ và dấu tay, tên đã mờ. Bà có gặp từ ‘người trực kế’ trong sổ tuyến không?”
“Có. Ở vài điểm cũ, người đi xe không được tự lấy hàng đặt cạnh bếp. Phải chờ người trực mở sổ, ghi số trước khi đưa đi.”
Bảo hỏi đó là hàng gì. Bà nói sổ bà từng giữ ghi gạo, muối, thuốc và đôi khi chỉ ghi “phần”. Bà phụ trách đường vận chuyển, không trực bếp, nên không biết tất cả những chữ “phần” chỉ cùng một thứ hay không.
“Người trực có ở lại điểm ấy mãi không?” hắn hỏi.
“Ta không gặp. Xe tới thì có người nhận giấy; chuyến sau có thể là người khác. Chỗ nào không có người nhận, xe phải mang hàng về hoặc đợi.”
Bà lấy trong túi một mảnh sổ rời đã được gấp vào giấy mới. Con gái bà tìm được khi dọn hòm, biết mẹ sắp tới nên nhờ mang theo để hỏi ông Từ. Trang này ghi hai điểm trên tuyến cũ: một điểm ở gần trạm chân núi, điểm kia nằm bên đường đá đi về phía bắc. Ở cột việc phải làm có hai dòng: “giao sổ bếp” và “nhận thẻ ca”.
Bảo nhìn những chữ ấy. Hắn nhớ ngọc bài đã tìm thấy cùng bộ xương dưới Thái Huyền, nhớ tấm bia trên sân đá và chỗ tên người trực bị nhòe trong sổ trạm. Những vật ấy có thể thuộc những câu chuyện khác nhau; trang giấy trước mặt chỉ cho biết từng có một việc gọi là nhận thẻ ca.
“Bà biết thẻ ca hình gì không?” hắn hỏi.
Bà lắc đầu. “Ta chỉ ghi tên hàng. Người giao hàng nhận một miếng thẻ rồi nộp lại cho người giữ tuyến; ta chưa thấy nó.”
Ông Từ xin chép tên hai điểm và hai dòng việc. Bà đồng ý, nhưng muốn giữ mảnh sổ, vì mặt sau có ghi khoản tiền của gia đình bà. Thanh Nghi chép phần được cho phép, Bảo đối từng chữ. Hứa Đồng ghi ngày gặp và lời bà nói bà chưa thấy thẻ.
Ở cuối trang, dưới tên điểm phía bắc, có một ký hiệu hình vòng nhỏ với một nét ngang chưa liền. Bà nói bà không nhớ ký hiệu đó do mình viết hay người khác viết trước. Trong sổ tuyến có nhiều ký hiệu sửa qua các đời, bà không muốn nhận là chữ của mình khi chưa chắc.
“Đường đá phía bắc còn đi được không?” Thanh Nghi hỏi.
Ông Từ nói ông chưa đi tuyến ấy gần đây. Người giữ đường ở trạm chân núi có thể biết, còn đoạn xa hơn phải hỏi người dân sống gần đường. Mưa mới qua, không nên tự mang bản đồ cũ lên đó mà tưởng lối vẫn nguyên.
Bảo nhìn hai tên điểm trong bản chép. “Người ta giao sổ bếp ở điểm thứ nhất, rồi nhận thẻ ở điểm thứ hai?”
Bà chỉ vị trí hai dòng. “Nó viết cùng một cột, chưa nói phải làm theo thứ tự nào. Có thể mỗi điểm có một việc, cũng có thể cả hai việc thuộc cùng một chuyến.”
Hắn kéo tờ giấy lại, thêm một dấu hỏi ở giữa hai dòng. Nếu ông Từ tìm được sổ đầy đủ, họ sẽ đối tiếp.
Bà cất mảnh giấy, chuẩn bị đi. Hứa Đồng hỏi tiền xe về; bà bảo con gái đã đưa đủ. Ông Từ tiễn bà ra cửa. Bảo muốn theo nhưng còn phải chép lại trang phân ca bị ướt mép; hắn nhìn người đàn bà bước qua sân, chiếc túi vải đập nhẹ vào đầu gối bà.
Giữa chiều, trời hửng. Một người gánh hàng tới nhờ giữ chỗ dưới mái, trong giỏ có mấy bó rau và một túi gạo nhỏ. Người ấy nói người nhận còn đang làm ở bếp. Bảo hỏi tên, ghi giờ và nhờ người trực cùng trông hộ trong khi hắn đi báo. Người nhận ra, kiểm hai thứ, ký sổ rồi mang vào. Người gánh hàng cầm tờ biên nhận, hỏi nếu bó rau thừa thì gửi lại ai. Người nhận mở giỏ xem, thấy một bó thuộc đơn khác và giúp gọi đúng chủ.
Tới lúc giao ca, Bảo kể chuyện trang sổ cho Hổ. Hổ vừa dọn sân xong, nghe tới chữ “thẻ” thì hỏi có giống ngọc bài Bảo từng nhắc không. Bảo đáp chưa biết, bà giữ sổ chưa thấy hình thẻ. Hổ không hỏi nữa, chỉ cất chổi rồi đi cùng hắn tới khu nuôi.
Người coi đang trộn cám mới mua với thóc. Ông cho biết tiền thức ăn được ghi trong sổ khu nuôi; Ô Kê vẫn ăn phần đã quy định, không lấy thêm của những con khác. Hổ giúp xách nước, Bảo giữ cửa. Khi ông coi đặt máng xuống, Ô Kê bước tới mổ một hạt, rồi quay đầu nhìn Hổ. Hổ cười và rút tay khỏi song cửa.
Tối ấy, Hứa Đồng đưa Bảo xem một tờ việc của hội. Ông Từ đã chuyển câu hỏi về đường phía bắc. Nếu xác nhận đường có thể đi, hội muốn thuê Bảo cùng Thanh Nghi ghi tình trạng tuyến và điểm nghỉ; tiền công, người dẫn và ngày đi sẽ được bàn trước, chưa có chuyến nào được nhận.
“Con có muốn đi không?” Hứa Đồng hỏi.
Bảo nhìn chiếc bút trên bàn. Lần trước hội đề nghị mua nồi, hắn đã từ chối. Việc ghi đường là việc khác, nhưng một bản ghi có thể giúp họ biết thêm nơi có bếp cũ. Hắn hỏi hội định dùng kết quả để làm gì và ai sẽ được giữ bản chép.
“Hai câu ấy phải hỏi họ,” Hứa Đồng đáp. “Còn con, hãy nghĩ xem mình muốn nhận việc trong điều kiện nào.”
Bảo không ký tờ việc. Hắn viết xuống ba điều: có người biết đường; người ở điểm nghỉ được biết đoàn tới làm gì; bản ghi có phần nào thuộc riêng người dân thì phải hỏi trước khi mang đi. Hắn đưa Thanh Nghi xem. Nàng thêm một dòng về người trực và đường lui nếu trời đổi, rồi trả lại hắn.
Hứa Đồng đọc, nói những điều ấy có thể đem ra bàn, không bảo hội đã đồng ý. Bảo giữ tờ giấy lại, chờ khi ông Từ hỏi được đường và hội nói rõ việc.
Bữa tối có canh bí và ít cá kho. Bảo ăn hết phần của mình, không tiêu thêm tiền. Trong phòng, hắn đặt bản chép hai điểm cạnh câu “chờ người trực kế”. Một đầu giấy bị gió thổi lên; hắn lấy chiếc chặn gỗ đè xuống, chừa ra hai chữ “thẻ ca”.