Chương 209: Tên Trên Bậc Đá
Bà Liên gửi tin xuống vào ngày thứ ba.
Người giữ bếp đã ăn nửa củ khoai. Hôm sau bà tới, chiếc bát được rửa sạch, vỏ khoai nằm trong giỏ rác cạnh cửa. Ông cũng nhờ bà hỏi Dư An có thể lên xem chân giúp không; lúc ngồi lâu, chân trái của ông tê đến mức khó co lại.
Tạ Tiểu Bảo đem tin ấy tới chỗ Dư An. Ông đang kiểm đồ trong túi, nghe xong liền hỏi bà Liên có nói người giữ bếp muốn đi khám ở nơi khác không. Bảo đáp chưa nghe. Dư An bảo sẽ lên vào sáng hôm sau, mang thêm đồ giữ ấm và hỏi kỹ ông ấy.
Thanh Nghi cũng nhận được lời nhắn từ bà Viên. Bà sẽ dẫn đường như lần trước, nhưng tới trưa phải về nhà có việc. Bảo xin Hứa Đồng đổi buổi trực; lần này hắn cùng Thanh Nghi sẽ bù vào hôm khác, còn Dư An đi trong giờ được phân công giúp người ở khu vực ấy. Hứa Đồng ghi vào lịch và hỏi cần hỗ trợ đường đi không. Họ nói hiện chưa cần cáng, nhưng nếu ông giữ bếp muốn xuống núi thì sẽ phải bàn tiếp.
Trước chuyến đi, Bảo tìm A Thất ở sân sau. Đứa nhỏ đang xếp những chiếc chổi đã khô vào góc tường. Nghe nói người giữ bếp đã ăn khoai, nó cười, rồi hỏi ông có thích không.
“Bà Liên thấy vỏ khoai, không nghe ông nói thích hay không.”
“Vậy lần sau ta hỏi.”
“Ngươi muốn đi cùng à?”
A Thất nhìn ra cửa sân. “Ta chưa đi xa tới đó. Nhưng hôm nay còn phải rửa thùng.”
Bảo bảo khi nào có dịp sẽ hỏi bà Viên xem có thể đưa nó đi không. Đứa nhỏ gật đầu, đem chiếc chổi cuối cùng đặt lên giá. Hắn không hứa một ngày cụ thể; đường còn dài và công việc của mỗi người chưa sắp xong.
Hôm sau họ ăn cháo nóng, mang cơm nắm và nước từ bếp. Bảo dùng tiền của mình mua một gói muối nhỏ vì bà Liên hôm trước nói ở mái nghỉ sắp hết. Hắn hỏi Dư An có nên mang thuốc không; ông đáp sẽ xem người giữ bếp trước, những thứ trong túi là đồ ông thường dùng, không cho uống thuốc khi chưa biết cần gì.
Trên đường, bà Viên kể đã hỏi hai nhà gần khe đá. Một người biết mái nghỉ từ thời ông nội, nhưng không biết tên người giữ bếp. Nhà kia giữ một tấm đá khắc tên ở bậc cũ sau mái; vì bậc sụt, họ từng đặt nó sang bên cho khỏi chắn đường. Bà chưa xem tấm đá ấy, chỉ nghe kể.
“Bà Liên biết không?” Thanh Nghi hỏi.
“Có thể biết. Nhà bà ấy từng sửa bậc cùng người hàng xóm.”
Họ tới mái nghỉ khi nắng vừa chạm mép sân. Bà Liên đã có mặt, đang gỡ những lá khô mắc ở máng nước. Bảo đưa gói muối, nói hắn mua để biếu; bà hỏi hắn đã giữ tiền đi về chưa. Hắn đáp đã có tiền xe và phần công chuyến khảo sát, gói muối mua bằng tiền riêng. Bà nhận, đặt vào hộp trong bếp ngoài.
Người giữ bếp vẫn ngồi cạnh lửa. Nồi đậy nắp, cuốn sổ nằm trên đùi. Thấy Dư An, ông nâng bàn tay hôm trước lên một chút.
“Ngón tay đỡ cứng lúc sáng. Chân thì không.”
Dư An chào ông, hỏi có thể vào gần hơn không. Ông gật đầu và dịch chiếc ghế thấp. Dư An xem chân theo lời ông đồng ý, hỏi cảm giác ở bàn chân và đầu gối, rồi xin thử giúp ông đổi tư thế. Ông giữ bếp nắm mép ghế, từ từ duỗi chân. Mồ hôi rịn ở thái dương; Dư An dừng khi ông bảo đau.
“Ông có muốn đứng thử không?”
Người đàn ông nhìn bếp. “Nếu đứng, ai nhìn nồi?”
“Ta ngồi ở đây nhìn cùng,” Bảo nói. “Ông vẫn thấy nồi. Con không mở nắp.”
Ông giữ bếp nhìn hắn một lúc. Dư An kê ghế xếp sát bên, bà Liên giữ tấm chắn lửa khỏi đổ. Người đàn ông đặt cuốn sổ lên bàn, vịn tay Dư An và mép ghế. Ông nhấc người lên được một chút, nhưng chân trái không chịu nổi sức nặng. Dư An giúp ông ngồi xuống ngay.
Không ai nói một lúc. Tiếng nước trong nồi khẽ động dưới nắp. Người giữ bếp nhìn bàn chân mình, rồi kéo tấm chăn mỏng phủ lại đầu gối.
“Ta vẫn nhìn được nồi,” ông nói.
“Có,” Bảo đáp. “Con ngồi đây, ông cũng nhìn thấy.”
Dư An nói ông cần được xem kỹ hơn nếu đồng ý, nhưng không thể hứa chỉ một lần giúp đứng dậy là đủ. Người giữ bếp hỏi nếu xuống núi, ai trực bếp. Dư An đáp đó là việc phải tìm cách cùng ông; hôm nay ông chưa cần quyết định đi đâu.
Bà Liên đem bát nước tới. Lần này ông cầm bằng hai tay và uống. Bảo thấy đáy bát lộ ra khi ông đặt xuống, bèn lấy bình rót thêm theo lời ông nhờ. Hắn không mở nồi, cũng không đụng vào cuốn sổ.
Ngoài cửa, Thanh Nghi hỏi bà Liên về tấm đá ở bậc sau. Bà nói đúng là có một phiến, nằm cạnh hàng rào từ lần cha bà sửa bậc. Họ có thể xem mặt trên, nhưng bà không biết có được nhấc lên không vì một đầu đá đang chèn chân hàng rào của nhà bên.
Bà Viên dẫn Thanh Nghi và Bảo đi vòng ra sau. Phiến đá dài bằng hai bàn tay người lớn, một đầu bị đất phủ. Trên mặt có ba dòng khắc nông. Hai dòng trên có nét ngang cắt qua, còn dòng dưới cùng không có nét ấy. Mép đá sứt một góc, nhưng chữ ở dòng cuối vẫn còn.
Thanh Nghi cúi đọc. “Mạc... Trì.”
Bảo nhắc lại tên, rồi hỏi bà Liên có từng nghe ai gọi người giữ bếp như vậy không. Bà lắc đầu. Bà nhớ từ lúc nhỏ phiến đá đã ở bậc cũ; cha bà bảo đừng dùng nó làm đá mài vì có tên người. Bà không biết tên ấy thuộc ai.
Thanh Nghi chép cả ba dòng, ghi hai dòng trên có nét ngang và dòng cuối không có. Nàng để trống chỗ chữ đã sứt. Bảo giữ giấy cho nàng, còn bà Viên chỉ vị trí phiến đá trên một hình vẽ đơn giản. Không ai nhấc đá hay cạo đất khỏi mép bị hàng rào đè.
Họ trở lại bếp. Người giữ bếp đang để cuốn sổ trên bàn; Dư An ngồi cạnh, chỉ cho ông cách đặt chân lên chiếc đôn thấp để dễ đổi tư thế. Ông thử một lúc rồi bảo như thế đỡ căng hơn.
Bảo hỏi: “Ngoài sau có phiến đá ghi mấy tên. Ông có biết người tên Mạc Trì không?”
Tay người đàn ông đang giữ chén nước dừng lại. Một giọt nước rơi xuống mu bàn tay. Ông nhìn về phía cửa sau, nơi phiến đá khuất sau hàng rào.
“Ai gạch tên ấy chưa?”
“Con thấy hai tên trên có nét ngang. Tên Mạc Trì không có.”
Người giữ bếp đặt chén xuống. “Đừng gạch.”
Bà Liên bước tới gần cửa. “Đó là tên ông sao?”
Ông không nhìn bà ngay. Một lúc sau, ông gật đầu, lấy ngón tay lần tới một dòng trong cuốn sổ. Ông không đưa cho họ xem, chỉ nói: “Ca này chưa bàn giao.”
Bảo muốn hỏi ông trực bao lâu. Nhìn bàn tay ông đang ép lên trang giấy, hắn đổi câu hỏi: “Người nhận ca phải làm gì trước?”
“Đối sổ. Xem phần còn lại. Ký tên.”
“Có cần thẻ không?” Thanh Nghi hỏi.
“Người giao mang thẻ, người nhận mang sổ.” Ông dừng một lát. “Ta còn sổ của ta.”
Thanh Nghi ghi câu trả lời ra giấy sau khi xin phép. Ông không cho chép nội dung trong cuốn sổ; nàng chỉ ghi những lời ông vừa nói. Bà Liên hỏi có thể ghi tên Mạc Trì để tìm người thân không. Ông đồng ý cho hỏi quanh vùng, nhưng không muốn rời bếp hôm nay.
Gần trưa, bà Viên phải về. Bà Liên nói sẽ ở lại tới khi đoàn xuống, rồi nhờ người nhà qua xem lúc chiều. Dư An hẹn ngày có thể trở lại; ông giữ bếp chấp nhận. Bảo hỏi có cần mang củi thêm không, bà Liên nói số hiện tại đủ vài ngày, nếu thiếu bà sẽ nhắn.
Họ ăn cơm ở bàn ngoài. Người giữ bếp nhận một ít rau muối bà Liên đưa, đặt cạnh chén. Trước khi rời đi, Bảo chào ông bằng tên vừa biết. Ông ngẩng đầu, đáp một tiếng rất nhỏ.
Về tới ngoại viện, Bảo báo Hứa Đồng tên Mạc Trì và lời ông đồng ý cho hỏi quanh vùng. Hắn giữ bản chép phiến đá riêng, không đưa vào báo cáo đường của hội. Dư An ghi tình trạng đã xem và ngày hẹn tiếp, còn Thanh Nghi cất hình phiến đá cùng những chỗ chữ mất nét.
Hổ đã giúp người coi cho Ô Kê ăn. Bảo kiểm máng nước, kể hôm nay người giữ bếp đã uống và thử đứng. Hổ hỏi ông đứng được chưa. Bảo nói chưa, nhưng ông đã cho biết tên.
Tối, Bảo ăn cơm với đậu và canh cải. Hắn ghi tiền gói muối đã tiêu, số còn lại buộc trong khăn. Trên tờ giấy đặt dưới chặn gỗ, hắn viết vào chỗ trống một cái tên: “Mạc Trì”.