Chương 217: Hòm Ở Kho Đường Mới
Kho đường mới vẫn còn, nhưng người giữ kho đã đổi.
Ông Từ mang tin về vào buổi chiều. Người quản kho hiện nay tên Cẩn, làm việc cho một nhà buôn thuê lại nửa gian kho từ Nhất Dực Hội. Nửa còn lại dùng cất giấy và đồ cũ của trạm. Ông Cẩn không nhớ chiếc hòm bà Thục giao, nhưng nhận xem biên nhận và hỏi người giữ sổ cũ.
Tạ Tiểu Bảo muốn tới ngay. Ông Từ nói kho đang kiểm hàng, sáng mai mới có giờ tiếp. Hứa Đồng xem lịch, cho Bảo và Thanh Nghi đi sau ca sáng; chuyến này họ tự trả tiền xe, không phải việc hội thuê. Hổ nghe được liền xin theo, hứa làm xong phần việc khu nuôi trước khi đi.
Sáng hôm sau Bảo nhận một giỏ rau và hai bao gạo ở cửa, giao đủ cho người bếp rồi mới rời bàn. Hắn ăn bát cơm với trứng và canh, bỏ vào túi nửa chiếc bánh mua bằng tiền mình. Thanh Nghi mang bản chép biên nhận của bà Thục; bản gốc vẫn ở nhà bà. Ông Từ đi cùng để giới thiệu họ với người quản kho.
Hổ tới hơi muộn, ống tay áo còn ướt. Hắn vừa giúp người coi rửa máng Ô Kê, đã nhờ một người khác cho thóc buổi chiều và hẹn tối làm bù. Bảo hỏi hắn có ăn chưa; Hổ vỗ bụng, nói đã ăn hai bát cháo, còn mang thêm một củ khoai.
Xe đưa họ qua đường mới. Kho nằm sau dãy nhà thấp, mái lợp ngói đỏ, cửa lớn mở về phía sân. Trước cửa có những bao hàng xếp theo từng hàng, giữa chừa lối cho xe. Một người mặc áo nâu đang ghi số lên thẻ gỗ; ông Từ gọi, người ấy ngẩng đầu và mời họ vào gian bên.
Ông Cẩn đọc bản chép biên nhận, hỏi bà Thục có còn giữ bản gốc không. Thanh Nghi nói còn; bà đồng ý cho họ mang bản chép đi hỏi, chưa đồng ý giao giấy. Ông nhìn dấu trạm được vẽ lại, rồi gọi một người lớn tuổi từ phòng trong.
Người ấy tên Tín, từng giữ sổ kho trước ông Cẩn. Ông đã nghỉ, hôm nay tới giúp đối một lô hàng. Ông đeo kính đọc bản chép, nhận ra tên kho ghi bằng cách cũ. Ông không nhớ chiếc hòm cụ thể, nhưng nói những hòm giấy chuyển sau trận lũ thường được ghi trong sổ nhận đồ ướt.
“Cuốn ấy còn không?” Bảo hỏi.
“Có thể còn trong tủ giấy của trạm.” Ông Tín chỉ gian phía sau. “Ta không giữ chìa nữa.”
Ông Cẩn lấy chìa, mở tủ. Bên trong có ba chồng sổ, mỗi chồng bọc một tờ giấy ghi năm. Ông hỏi ngày trên biên nhận, rồi tìm cuốn tương ứng. Cuốn đầu không có mục đồ ướt; cuốn thứ hai có một danh sách nhận trong hai ngày sau lũ.
Hổ đứng bên cửa nhìn những chồng giấy. Hắn hỏi có cần bê ra bàn không. Ông Cẩn bảo chỉ cần giữ cửa tủ, rồi tự mang cuốn sổ ra. Hổ giữ cửa bằng một tay, cẩn thận không đụng những chồng còn lại.
Trong danh sách có ba hòm gỗ. Hòm thứ nhất chứa giấy mua hàng, được chủ nhận sau hai ngày. Hòm thứ hai ghi “sổ và giấy trạm”, người nhận là một người giữ đường. Hòm thứ ba chỉ ghi “giấy bọc vải dầu”, cạnh đó có dấu hỏi và dòng “chờ kiểm”.
Bảo đọc dòng thứ ba hai lần. Nó giống lời bà Thục kể, nhưng không có tên bà. Thanh Nghi hỏi có ngày nhận hay người giao không. Ông Tín chỉ cột bên trái: ngày gần với biên nhận, tên người giao viết tắt. Dấu trạm ở trang này cùng dạng với dấu trên bản chép, nhưng mực đã mờ.
“Có ghi đã kiểm chưa?” ông Từ hỏi.
Ông Cẩn lật trang sau. Dòng tiếp theo ghi “chuyển lên gác giấy cũ”, kèm số ngăn. Không có dòng mở hòm, không có danh sách vật bên trong. Ông Tín nói gác giấy đã chuyển đồ hai lần từ khi ông nghỉ; số ngăn có thể không còn đúng.
“Vậy phải hỏi người chuyển lần cuối,” ông Cẩn nói. “Người ấy làm ở xưởng đóng thùng gần đây. Ta có thể mời tới, nhưng chiều nay ông ấy đang giao hàng.”
Bảo nhìn đồng hồ nước ở góc phòng. Hắn đã nghĩ có thể thấy chiếc hòm ngay. Nhưng nếu gác từng chuyển đồ, tự đi tìm trong hàng chồng hòm mà không biết của ai sẽ mất cả ngày và dễ nhầm. Hắn hỏi ông Cẩn có thể ghi lại số ngăn, ngày chuyển cùng những gì đã thấy không. Ông Cẩn đồng ý cho Thanh Nghi chép ba dòng liên quan, không chép tên chủ hai hòm kia.
Hổ mở túi lấy củ khoai. Hắn định ăn ở ngạch cửa, rồi hỏi ông Cẩn có được ngồi đó không. Ông chỉ chiếc ghế dưới mái. Bảo ăn nửa bánh mang theo; Thanh Nghi uống nước và dùng cơm nắm. Ông Từ nhận bát trà, nói buổi chiều mình phải quay về đưa tin cho bà Viên, nhưng Bảo và Thanh Nghi có thể chờ người ở xưởng nếu họ muốn.
“Ta đã hẹn về làm máng,” Hổ nói, nhìn củ khoai còn một nửa.
Bảo hỏi ông Cẩn người chuyển đồ có thể gặp lúc nào. Ông nói khoảng cuối buổi, nhưng không chắc. Hổ suy nghĩ rồi bảo mình về trước; nếu ngày khác cần nâng hòm, cứ nhắn. Hắn cất nửa củ khoai cho bữa sau, theo ông Từ ra xe.
Bảo và Thanh Nghi ở lại. Họ không vào gác giấy khi chưa có người dẫn. Ông Cẩn cho họ xem sơ đồ kho hiện tại: gác cũ được chia làm hai, một phần chứa sổ trạm, một phần chứa đồ nhà buôn. Hắn chỉ lối cầu thang hẹp và nói muốn mang hòm xuống cần ít nhất hai người vì bậc cuối bị sứt.
Gần hết buổi, người chuyển đồ tới. Ông tên Kha, trên tay có vết mực và mùn gỗ. Ông Cẩn đưa bản chép, hỏi số ngăn cũ. Kha nói sau lần chuyển gần nhất, những hòm chưa rõ chủ được đặt vào dãy bên trái gác giấy của trạm. Ông nhớ có một hòm nắp gãy, nhưng không nhớ bên trong.
“Có thể lên xem ngay không?” Bảo hỏi.
Kha nhìn ông Cẩn. Ông quản kho kiểm giờ, rồi đồng ý đi cùng, miễn không mở hòm nếu chưa biết thuộc ai. Thanh Nghi và Bảo theo sau, mỗi người cầm một đầu đèn. Trên gác, bụi phủ mỏng lên những thùng gỗ. Kha đếm từ cột bên trái, dừng ở chiếc hòm nhỏ có một góc nắp được buộc bằng dây.
Ông lau mặt ngoài bằng vải khô. Một miếng giấy dán ở cạnh hòm đã bong gần hết; còn đọc được chữ “giấy” và một phần số. Kha chỉ vết gãy trên nắp. “Ta nhớ cái này. Lúc chuyển, dây cũ đã đứt nên ta buộc lại.”
Ông Cẩn đối số còn lại với sổ kho. Một nét trên giấy dán khớp, phần sau đã mất; hình dáng cũng giống lời bà Thục kể. Ông nói có thể là hòm bà từng giữ, nhưng muốn xem bản gốc biên nhận và hỏi bà trước khi kết luận. Bảo đồng ý.
Hắn đặt đèn xuống, thấy sợi dây buộc đã sờn. “Nếu dây đứt thì nắp có rơi không?”
Kha thử nhẹ và nói nắp vẫn nằm trong gờ, nhưng nên thay dây. Ông Cẩn cho phép buộc thêm một vòng mới bên ngoài, không tháo vòng cũ. Kha làm, rồi ghi ngày buộc vào thẻ tre nhỏ treo cạnh hòm.
Thanh Nghi xin chép vị trí hiện tại, vết gãy và phần chữ còn đọc được. Ông Cẩn đồng ý, để nàng đọc lại cho ông nghe. Hòm vẫn ở trên gác; ông sẽ giữ chìa và hẹn sau khi gặp bà Thục cùng người có liên quan thì bàn tiếp. Bảo không xin mang hòm đi. Hắn chưa biết trong đó có cuốn sổ nào.
Rời kho, Thanh Nghi gửi lời qua xe tới bà Viên, nhờ bà hỏi khi nào bà Thục có thể gặp ông Cẩn. Bảo muốn lên báo Mạc Trì ngay, nhưng trời đã xế. Hắn và Thanh Nghi về ngoại viện trước, đưa Hứa Đồng bản ghi và nói đã thấy một hòm có đặc điểm gần giống, chưa mở.
Ông Từ nhận chuyển tin lên núi vào sáng mai: có một hòm đang giữ ở kho đường mới, người quản kho cần đối lại biên nhận. Bảo nhờ ông nói rõ chưa biết trong hòm có sổ; Mạc Trì đã dặn nếu ai nói giữ sổ thì hỏi số dòng cuối, còn hiện giờ chưa có ai nói vậy.
Tối, Hổ trả xong việc rửa máng và nghe Bảo kể. “Hòm nhỏ thì hai người mang được chứ?”
“Có lẽ được. Cầu thang hẹp, phải hỏi người quản kho.”
“Lần sau ta đổi ca sớm.”
Bảo ăn cơm với rau và canh nóng, tính tiền xe đã trả rồi buộc lại khăn. Trong cuốn sổ nhỏ, hắn ghi vị trí chiếc hòm theo lời ông Cẩn cho phép, cạnh đó viết: “Chưa mở. Chờ đối biên nhận.”
Hắn gấp bản chép, đặt chiếc thẻ gỗ cũ dùng làm chặn lên mép giấy.