Chương 218: Dòng Cuối Cùng
Bà Thục tới kho đường mới vào một sáng nhiều gió.
Bà mang theo tờ biên nhận gấp trong khăn, còn ông Đạt đưa bà đi xe. Tạ Tiểu Bảo, Thanh Nghi và Lâm Hổ tới sau; Hổ đã đổi ca ở khu nuôi, trong túi có đôi găng cũ. Ông Từ đi cùng để giới thiệu bà Thục với ông Cẩn.
Trước khi đi, Bảo ăn cơm với rau và một quả trứng. Hắn mua một chiếc bánh nhỏ bằng tiền của mình, bẻ đôi đưa Hổ. Hổ nhận, nói tối sẽ làm bù việc rửa máng. Người coi đã nhận trông Ô Kê trong ngày; hắn còn dặn Bảo không cần lo nước vì máng vừa được thay.
Ông Cẩn đón họ ở gian trước, mời bà Thục ngồi rồi xem giấy gốc. Dấu trạm trên giấy rõ hơn nét Thanh Nghi chép; ngày và tên viết tắt ở cuối dòng phù hợp với sổ nhận đồ ướt. Ông Tín, người từng giữ kho, đọc thêm chữ ký và nói đó là tên một người từng đưa hàng từ trạm cũ sang, nhưng ông không biết người ấy còn ở đâu.
“Cái hòm trong kho có thể đúng cái bà giữ,” ông Cẩn nói. “Muốn chắc hơn, bà xem vết gãy có nhớ không.”
Bà Thục theo họ lên gác. Cầu thang hẹp, ông Đạt đi sau đỡ bà ở bậc cuối bị sứt. Trên gác, chiếc hòm vẫn nằm ở dãy bên trái, dây mới buộc ngoài dây cũ, thẻ tre ghi ngày treo ở cạnh. Ông Kha đã chờ sẵn; ông Cẩn nhờ ông giữ đèn.
Bà Thục cúi nhìn nắp. Một góc gãy thành hình răng cưa, trên cạnh có vết lõm như từng bị đinh cạy. Bà đặt tay gần vết ấy, không chạm.
“Hôm nhận, nắp đã gãy chỗ này. Cha Liên buộc dây vì sợ nó bung.”
Bà chỉ thêm một vệt mực ở mặt sau hòm. Vệt đã nhạt, nhưng khi ông Kha xoay hòm ra ánh sáng, có thể thấy hai nét chéo. Bà nói ngày ấy mình đánh dấu để phân biệt với hòm đồ nhà mình; bà không bảo trong kho chỉ có một chiếc hòm như thế.
Ông Cẩn đối lại giấy dán với số trong sổ kho. Một phần số đã mất, nhưng ngày, vết gãy và dấu bà Thục nhớ đều phù hợp. Ông hỏi bà có muốn xem bên trong không. Bà nói muốn, nhưng nhắc mình chỉ giữ hộ, không nhận là chủ những giấy ấy.
Ông Tín xem sổ một lần nữa. Hòm được ghi là đồ trạm chưa rõ người nhận; ông Cẩn đồng ý kiểm cùng bà Thục, lập danh sách để tìm người liên quan. Bảo hỏi có thể dự không. Ông bảo được nếu họ giúp ghi đúng những gì nhìn thấy, không tự lấy giấy ra ngoài.
Hổ và ông Kha mang hòm xuống. Hổ đi trước, đỡ đáy; ông Kha giữ phía nắp. Tới bậc sứt, hai người dừng cho ông Đạt đặt một tấm ván hẹp làm chỗ bước, rồi mới tiếp tục. Bảo muốn đưa tay đỡ nhưng lối quá chật, hắn giữ đèn phía dưới cho họ nhìn rõ.
Hòm được đặt trên chiếc bàn rộng trong gian giấy. Ông Cẩn tháo dây mới, giữ lại cả hai đoạn dây trên khay. Nắp nhấc lên được một phần; dưới nắp là lớp vải dầu đã cứng và một chiếc khăn mục ở góc. Bà Thục nhìn, nói bà nhớ có vải dầu nhưng không nhớ chiếc khăn.
Ông Cẩn nâng mép vải. Bên trong có hai gói giấy và một cuốn sổ bọc bìa xám. Gói trên cùng là các phiếu nhận gạo, vài tờ đã dính; gói thứ hai gồm giấy mua đinh và danh sách sửa kho. Cuốn sổ nằm dưới cùng, một cạnh sẫm nước nhưng gáy vẫn còn buộc dây.
Bảo nhìn cuốn sổ. Hắn không chìa tay. Mạc Trì đã dặn hỏi số ở dòng cuối nếu có người nói giữ sổ; hiện tại chưa ai biết đây là sổ gì.
Ông Tín đọc bìa: “Sổ trực, mái phía bắc.” Bên dưới có một dấu mực tròn và chữ nhỏ hơn đã mờ. Ông Cẩn mở trang đầu ở góc đủ đọc tên người giao, rồi khựng lại: trang có dấu niêm bằng giấy mỏng, đã rách một nửa.
“Phải đối với sổ kho,” ông nói. “Đây là giấy chưa rõ người nhận, không phải giấy bán hàng của nhà buôn.”
Ông Từ hỏi có thể đọc dòng cuối của cuốn sổ không. Ông Cẩn cân nhắc, hỏi vì sao. Bảo kể có một người giữ bếp ở mái bắc đang chờ người nhận ca, nhưng chưa nói tên hay các số trên thẻ; ông ấy nhờ nếu tìm được sổ thì hỏi dòng cuối. Ông Cẩn đồng ý xem cùng ông Tín, miễn những người còn lại không chạm tới cuốn sổ.
Ông Tín mở từ phía cuối. Nhiều trang vẫn để trắng. Trang có chữ cuối cùng ghi một câu: “Nhận ca khi đối đủ hai phần.” Bên dưới là hai nét số, một rõ, một nhòe ở cạnh giấy. Ông đọc con số còn rõ; số thứ hai ông không nhận ra.
Thanh Nghi ghi lại lời ông, không tự thêm nét. Bảo nghe xong, nhớ hai nét Mạc Trì từng chỉ trên thẻ nhưng không dám dựa vào trí nhớ để nói khớp. Hắn hỏi có thể mời Mạc Trì tới xem không, rồi tự nhớ ông chưa đi được đoạn đường này.
“Có thể mang bản chép lên hỏi ông ấy,” Thanh Nghi nói. “Nếu ông muốn xem bản gốc thì phải bàn cách.”
Ông Cẩn không đồng ý đưa cuốn sổ ra khỏi kho ngay. Ông muốn báo người phụ trách phần giấy trạm và hỏi bà Thục có giữ thêm biên nhận nào không. Bà nói chỉ còn tờ đã mang tới. Ông Tín nhận viết giấy xác nhận những thứ vừa kiểm, có người dự và nơi cất hòm.
Bảo thấy số ở dòng cuối vẫn nằm trong đầu. Hắn muốn chạy lên núi ngay, nhưng mặt trời đã gần qua mái kho. Từ đây đến bếp rồi về ngoại viện sẽ tối; bà Viên không ở cùng để dẫn đường. Ông Từ đề nghị sáng mai mang bản chép và lời kể lên trước.
Hổ hỏi chiếc hòm có cần đưa lại gác không. Ông Cẩn nói tạm cất ở gian giấy khô dưới khóa, sáng mai mới kiểm tiếp. Hai người không tự xếp giấy lại; ông Tín đặt từng gói vào đúng vị trí, chèn giấy sạch ở chỗ khăn mục. Cuốn sổ bìa xám được bọc riêng trong lớp giấy mới, để cạnh hòm. Ông Cẩn khóa tủ, giao một chìa cho người phụ trách giấy trạm theo lệ của kho.
Họ ăn trưa muộn dưới mái ngoài. Hổ bóc củ khoai, đưa Bảo một nửa; hắn nhận vì chiếc bánh sáng chỉ còn chút vụn. Bà Thục uống nước ấm, nói muốn về trước khi gió mạnh. Ông Đạt đi cùng bà; bản gốc biên nhận đã được trả lại, còn một bản chép có chữ ký ông Cẩn được giữ ở kho.
Trên xe về, Bảo hỏi Thanh Nghi con số nàng nghe có giống nét trên thẻ không. Nàng đáp một nét có vẻ giống, còn nét kia lúc trước nàng chỉ được nhìn nhanh; nàng không muốn dựa vào trí nhớ mà xác nhận. Hai người thống nhất mang đúng lời ông Tín đọc và bản chép có chỗ mờ lên cho Mạc Trì.
Hứa Đồng nghe báo cáo, hỏi họ có chắc cuốn sổ thuộc mái bếp của Mạc Trì không. Bảo nói bìa ghi mái phía bắc, dòng cuối nhắc đối hai phần; họ chưa đối cùng ông. Ông đặt bản ghi cạnh tờ “sổ giao sau” và dặn sáng mai nếu Mạc Trì muốn đi xem, phải hỏi Dư An về đường và sức của ông.
Hổ về khu nuôi làm bù. Khi Bảo tới, hắn đang cọ máng, còn Ô Kê đứng trên viên đá khô, nghiêng đầu theo dòng nước. Bảo cầm thùng giúp hắn đổ nước bẩn, rồi kể ông Từ sẽ mang tin lên núi. Hổ hỏi nếu phải mang người giữ bếp xuống thì có cần cáng không. Bảo nói chưa biết ông có muốn đi; Dư An sẽ giúp bàn.
Tối, Bảo ăn cơm với canh bí, trả tiền xe từ khăn rồi đếm lại số còn. Hắn mở cuốn sổ nhỏ, viết: “Trong hòm có sổ trực mái phía bắc.” Sau đó hắn thêm: “Dòng cuối: một số đọc được, một số mờ. Chưa đối với thẻ.”
Hắn đặt bút ngang qua trang giấy, không viết chữ “khớp”.