Chương 228: Hai Bó Củi Một Lượt
Sáng hôm sau, bà Liên đem tới hai bó củi và một cuốn sổ mỏng.
Bà đặt củi dưới mái ngoài, phủ lại bằng tấm vải Hổ đã buộc hôm trước. Trong sổ là những khoản bà ghi từ khi bắt đầu mua củi cho Mạc Trì: ngày mua, số bó, người chở và số tiền. Những bó bà cùng con nhặt ở ven rừng có ngày ghi, ngày không; những năm cha bà còn sống thì không có trong cuốn này.
Tạ Tiểu Bảo, Thanh Nghi và Lê Trọng tới cùng ông Từ. Trước khi đi, Bảo đã ăn cháo, nhận cơm nắm từ bếp. Hắn không mua bánh; tiền xe chuyến về có trong khăn, còn xe lên do ông Từ thu xếp. Người giữ đường đợi ở mái dưới để bàn về sân phía tây, nhưng bà Liên muốn xem việc củi ở bếp trước.
Lê Trọng chào bà, nói ông sẽ chỉ chép các dòng bà đồng ý. Ông lấy bản sao hai hàng số ra, đặt cạnh sổ của bà. Một hàng ghi củi cấp cho mái bắc, một hàng ghi đã dùng; cả hai vẫn bằng nhau qua nhiều kỳ.
Bà Liên đọc những ngày trên giấy, nhíu mày. “Ngày này tôi mua hai bó. Con tôi mang lên sáng hôm sau. Còn ngày trong giấy của ông là trước đó ba hôm.”
“Bà có thấy củi nào khác ở bếp khi mang lên không?”
“Có một bó gần hết, tôi không biết ai mang. Ông Mạc nói còn đủ tới chiều nên tôi để hai bó ở ngoài.”
Con trai bà đang giữ lửa nghe vậy liền nói: “Hôm đó trời mưa. Con nhớ có một bó ướt ở mép, mẹ bảo để tách ra.”
Lê Trọng hỏi cậu có thể nhớ nhầm chuyến khác không. Cậu nhìn mẹ, bảo có thể; cậu chỉ chắc đã từng mang hai bó hôm mưa. Ông kiểm sổ ghi lời bà và lời cậu ở hai dòng, đánh dấu chỗ cậu chưa chắc. Ông không cộng hai bó ấy vào khoản của Điện.
Bảo nhìn tờ giấy. “Nếu trong sổ ông đã ghi cấp đủ, tại sao bà Liên vẫn phải mua?”
“Có thể số cấp đã tới nơi nhưng không đủ lâu. Cũng có thể số trên giấy không tới. Chúng ta cần xem phiếu giao và người nhận.”
“Ông Mạc là người nhận sao?”
“Bản sao tôi mang không có tên người nhận. Tôi sẽ hỏi sổ giao.”
Bà Liên mở túi vải, lấy một mảnh giấy cũ. Đó là phiếu mua củi ở chợ, có số bó và dấu của người bán. Bà nói không giữ phiếu mỗi lần; tờ này còn vì bà gói trong sổ lúc mang đi tính tiền. Lê Trọng xin chép số, ngày và tên người bán để có thể hỏi, không lấy bản gốc. Bà giữ phiếu bên mình.
“Các ông có trả lại tiền không?” bà hỏi.
Người kiểm sổ không trả lời ngay. “Tôi không có quyền hứa hoàn tiền. Tôi sẽ ghi bà đã mua, gửi kèm lời yêu cầu đối chiếu. Khi nhận được trả lời, tôi gửi qua bà Viên như đã hẹn.”
Bà Liên bảo bà mua vì không muốn bếp hết lửa, không phải vì ai yêu cầu. Nhưng nếu kho đã tính có củi mà để bà tự mua, bà muốn biết số củi kia đi đâu. Bảo viết câu hỏi ấy vào sổ của mình sau khi bà cho phép; hắn không ghi số tiền của gia đình.
Thanh Nghi nhận giờ bên bếp từ con trai bà. Hai người đối giờ trên tờ phân việc, cùng nhìn nắp nồi vẫn đậy. Cậu đưa chiếc vá, nói vừa thêm một thanh củi khô, bình nước còn hơn nửa. Nàng ghi lại và ký; cậu ký ở dòng giao, rồi ra ngoài ngồi cùng mẹ.
Hổ tới sau, mang bình nước và một túi cám nhỏ cho nhà bà Liên nhờ mua. Hắn đi bộ từ chân dốc, được người coi khu nuôi cho đổi ca tới chiều. Bà trả đúng số tiền mua cám ghi trên mảnh giấy người bán đưa; hắn đếm, trả lại bà một đồng vì bà đưa thừa. Bảo nhìn hai người đối lại tiền, rồi cất tờ tính củi chưa có số của mình.
Tại mái dưới, người giữ đường chờ cùng ông Từ. Ông mang bản chép số đo bệ, giấy ghi việc làm sạch lá và lời bà chủ vườn sau mưa. Lê Trọng đọc, hỏi có thể lên sân đá không. Ông giữ đường đồng ý dẫn, nhắc không tự nhấc đá ở bệ hay cạo bia. Bảo và Hổ đi cùng; Thanh Nghi ở mái bắc, bà Liên nói sẽ mang cơm tới cho nàng.
Đường lên sân còn ẩm. Đến nơi, Lê Trọng nhìn khoảng bệ và tấm bia nghiêng. Ông không đo lại ngay; ông hỏi người giữ đường nước sau trận mưa vừa rồi chảy thế nào. Người ấy kể bờ thấp đã đắp, bà chủ vườn thấy nước vào luống bớt hơn, nhưng rãnh từ sườn dốc vẫn đưa nước tới góc vườn.
Người kiểm sổ đặt thước trên mặt đá như người giữ đường cho phép. Ông đọc số giữa hai mép, đối với bản chép của thợ. Hai số gần nhau, khác một khoảng nhỏ; ông ghi cả hai, hỏi có thể do vị trí đặt dây không. Bảo nhớ lần trước dây đặt ngang khoảng giữa, nên cùng người giữ đường chỉ lại chỗ. Lần đo thứ hai trùng số cũ.
“Lần đầu tôi đặt lệch,” Lê Trọng nói. Ông gạch số vừa ghi, giữ lại trên giấy và viết lý do bên cạnh.
Hổ nhìn hai số, hỏi vì sao không bỏ tờ giấy nháp đi. “Ta từng viết sai một lần rồi,” Bảo đáp. “Nếu giữ lại, người sau biết vì sao ta đổi.”
Họ đi vòng tới chỗ bia nghiêng. Lê Trọng đọc được hai chữ “giữ phần”, nhìn nét ngang và vết nứt. Ông không bổ sung chữ còn mất. Người giữ đường kể thợ đá từng khuyên không chống bia bằng đá rời. Ông kiểm sổ ghi lời ấy vào mục tình trạng, nói có thể hỏi người ở Điện về việc bảo quản; ông chưa hứa sẽ có người tới sửa.
Trên đường xuống, Bảo hỏi hồ sơ của Điện có tên người từng trực sân này không. Lê Trọng nói bản sao chỉ ghi một mã điểm, không có danh sách tên. Ông sẽ hỏi phần hồ sơ khác, nhưng chưa biết còn đủ hay không. Hắn nhớ Mạc Trì có tên trên phiến đá ở mái bắc; sân này hiện chỉ còn hai chữ, và chẳng ai nói được hết những tên từng nằm trên bia.
Tới mái dưới, họ ăn cơm nắm. Người giữ đường mở giỏ bánh do bà chủ vườn gửi, bảo mỗi người lấy một chiếc. Bảo nhận nửa chiếc, để nửa còn lại cho Hổ; Hổ lấy và đưa hắn ít rau muối. Lê Trọng ăn phần mang theo, rồi đọc lại bản ghi về bệ, bia và nước. Người giữ đường sửa một câu: sau mưa, bà chủ vườn thấy nước bớt ở một luống, không phải cả vườn.
Ông kiểm sổ viết lại. Ông hỏi có thể gửi bản này cùng phiếu hỏi củi không; người giữ đường đồng ý nếu ông để một bản tại trạm. Bảo chép, Thanh Nghi không có ở đây để đối, nên hắn đưa người giữ đường đọc từng dòng. Ông sửa hai chữ rồi ký vào bản chép.
Khi họ về tới mái bắc, Thanh Nghi đã ăn phần bà Liên mang. Nàng bàn giao cho con trai bà, chỉ số củi đã dùng và hỏi cậu đã có nước chưa. Cậu giơ bình lên; nàng ký vào giờ giao. Lê Trọng đưa bà Liên bản tóm tắt khoản củi sẽ hỏi, đọc cả câu ông chưa thể hứa trả tiền. Bà nhận, cất cùng phiếu mua.
Trước lúc xuống núi, Bảo hỏi Lê Trọng tờ giấy ông đưa Hứa Đồng hôm qua có liên quan tới hai bếp không. Người kiểm sổ nhìn hắn, nói đó là một mục trong hồ sơ cũ của ngoại viện; Hứa Đồng đang đối lại. Ông không đưa giấy ra trên đường, chỉ bảo khi đã xác nhận điều có thể nói, ông sẽ trả lời cùng Hứa Đồng.
Bảo không thích phải chờ. Hắn nhìn bếp còn khói, rồi nghĩ nếu Hứa Đồng đang đọc một mục liên quan đến hắn, hắn phải được biết. Hắn giữ câu hỏi ấy tới lúc về.
Tối, hắn ghé khu nuôi. Người coi nói Ô Kê đã ăn và uống; Hổ làm bù việc dọn máng, Bảo giúp mang giỏ. Hắn ăn cơm với canh bí, không mua thêm. Trong sổ nhỏ, hắn ghi ngày đối số bệ, khoản hai bó củi theo lời bà Liên và câu hỏi chưa có trả lời: “Mục cũ của ngoại viện là mục gì?”
Hắn gấp trang lại, đặt cạnh tờ bản chép sai lệch.