Chương 266: Bờ Đất Mới Sụt
Con đường sau trạm đi sát một dòng nước nhỏ. Hôm trời khô, giữa đường và bờ còn một dải cỏ; sau mưa, nước ăn vào đất, để lộ những sợi rễ cây mảnh như dây buộc.
Tạ Tiểu Bảo đang dắt Xám thì nghe tiếng Hổ ở phía sau:
“Dừng lại.”
Một góc sọt bên trái vừa xô xuống. Dây chưa đứt, nhưng nút đã trượt khỏi chỗ người đánh xe chỉ họ buộc. Bảo giữ dây dẫn, chờ Hổ và Thanh Nghi tháo tải. Xám đứng yên một lúc, rồi cúi xuống gặm cỏ; Ô Kê kêu trong lồng khi chiếc sọt được đặt xuống.
Hổ chỉ mép dây. Một chỗ đã sờn vì cọ vào nan tre. Anh cắt bỏ đoạn hỏng, đổi sang cuộn dự phòng. Bảo thử buộc theo nút vừa học ở trạm, lần đầu để đuôi dây ngắn quá. Hắn tháo ra làm lại, kéo thử đến khi nút chắc mà vẫn mở được.
Dư An đi trước xem đường. Ông dừng ở chỗ một phần bờ đất sụt xuống, gọi mọi người tới. Đường còn lại đủ cho người đi một hàng, nhưng mép ngoài nứt, không rõ có chịu được sức nặng của Xám cùng hai sọt hay không.
“Con qua trước xem?” Bảo hỏi.
“Đừng đứng sát vết nứt,” Dư An nói. “Ta tìm chỗ vòng.”
Thanh Nghi nhìn lên sườn đất bên trong. Có một lối nhỏ qua bụi cây, dấu chân người mới in trên bùn. Nàng bước thử vài bước, gọi lại rằng lối ấy hẹp, một cành thấp có thể vướng lồng gà. Hổ mang dao nhỏ, nhưng không chặt ngay; anh kéo cành sang bên để xem nó có thể buộc tạm vào thân cây hay không.
Hai người dùng dây giữ cành, mở được khoảng trống. Bảo dắt Xám vào, đi chậm để chiếc sọt không quệt thân cây. Đến giữa lối, con la dừng, ngửi đám đất mới xới. Hắn đợi. Hổ đứng phía sau, không thúc, chỉ giữ cho lồng Ô Kê tránh cành lá.
Một con chó từ trên dốc chạy xuống, sủa vang. Xám giật đầu, lùi lại một bước. Bảo bị dây kéo căng, vội buông bớt. Thanh Nghi gọi lớn, người chủ con chó xuất hiện ở đầu lối và giữ nó lại. Xám vẫn đứng, tai dựng lên. Dư An bảo mọi người lùi ra một khoảng, để con la nhìn rõ phía trước.
Người chủ chó là một phụ nữ gánh hai giỏ rau. Bà xin lỗi, nói con chó nghe tiếng động nên chạy xuống. Bà dẫn nó lên trước, giữ dây cho đến khi Xám qua khỏi bụi cây. Bảo cảm ơn, hỏi bà có biết bờ đất sụt từ lúc nào không.
“Tối hôm kia. Sáng qua ta đi còn nguyên, chiều về đã thấy đất rơi.” Bà chỉ lên sườn. “Lối này người đi bộ qua được, nhưng xe phải đợi sửa hoặc vòng xa hơn.”
Bảo nhìn vết nứt từ chỗ đứng an toàn. Hắn đã tưởng đến bến chỉ cần theo đường chính. Đường ấy vẫn ở đây, nhưng một đoạn đã thay đổi sau chuyến người áo xanh đi qua. Hắn ghi lại lời bà, kèm ngày bà thấy đất sụt. Bà nói xóm gần đó đã báo người sửa, chưa biết khi nào làm xong.
“Bà có đi tới bến không ạ?”
“Ta rẽ về nhà phía trước. Muốn hỏi bến, đến trạm kế sẽ gặp người đi hàng.”
Họ thả cành cây về chỗ cũ, cuộn dây. Người phụ nữ đi cùng một đoạn, nói về ruộng rau bị nước cuốn mất một bờ. Bảo hỏi có cần thêm người đắp không; bà đáp người nhà đang làm, hôm nay cần mang rau đi bán trước khi hỏng. Hắn không giữ bà lại để hỏi thêm.
Đến chỗ nghỉ dưới một cây lớn, họ tháo tải cho Xám. Chỗ dây mới buộc không còn trượt, nhưng miếng đệm bên lồng gà đã xô lệch. Hổ lấy vải khô kê lại. Thanh Nghi giữ Ô Kê trong khu đất kín giữa các túi đồ, cho nó uống nước và ăn chút thóc. Con gà mổ hạt xong lại tiến về phía chiếc dây vừa tháo.
“Ngươi thích dây hơn thóc à?” Bảo hỏi.
Ô Kê kéo một đầu dây, làm cuộn dây lăn về phía hắn. Hổ đưa chân chặn lại, nói:
“Nếu nó biết buộc thì tối khỏi cần anh em ta canh.”
“Có khi nó chỉ biết tháo.”
“Vậy càng phải canh.”
Bảo kiểm chân Xám trong lúc con la nghỉ. Một chân dính bùn ở mép móng, hắn nhờ Hổ giữ dây, lấy que nhỏ gạt phần bùn ngoài. Hổ nhắc hắn đừng cạy sâu; nếu có gì mắc mà không thấy rõ thì tìm người biết làm. Bảo lau phần nhìn thấy, kiểm lưng rồi để đệm hong khô.
Dư An lấy túi thuốc ra xem. Một lọ nhỏ bị nghiêng, nút vẫn chặt. Ông chuyển nó sang ngăn giữa, dùng mảnh vải chèn. Thanh Nghi hỏi ông có mệt không; ông nói chân hơi căng sau đoạn vòng, nghỉ một lúc sẽ đi tiếp. Ông kiểm tay Bảo bị cọ hôm qua, thấy da vẫn lành.
“Con có thể mang túi thuốc giúp ông,” Bảo đề nghị.
“Lúc cần ta sẽ nhờ. Giờ ngươi đã dẫn Xám, đừng nhận thêm rồi mất tay giữ dây.”
Hắn ngồi xuống ăn phần cơm còn lại. Hổ bẻ bánh khô bà Liên cho, chia cho từng người. Bảo đếm số miếng sau khi chia, không phải để giành lại mà để biết còn đủ mấy bữa phụ. Thanh Nghi thêm ít rau mua ở trạm, bảo nên dùng sớm trước khi héo.
Qua chỗ nghỉ, họ gặp một xe nhỏ đi ngược chiều. Người đánh xe nói đã từ trạm kế tới, biết đoạn bờ sụt nhưng chưa biết có lối vòng cho xe. Bảo chỉ lối qua bụi cây, giải thích chỉ có người và la đi thử, xe có thể không lọt. Người ấy cảm ơn, quyết định xuống xem trước khi dắt con vật tới.
Bảo muốn đi cùng để chỉ rõ hơn. Hổ nhìn mặt trời, nhắc nếu quay lại họ có thể tới trạm muộn. Người đánh xe nói ông tự xem được; nếu không qua, ông sẽ tìm đường vòng xa. Bảo không nhận lời dẫn, chỉ nhắc chỗ đất nứt ở mép ngoài.
Khi đi tiếp, hắn thấy áy náy. Hôm qua nhóm đã giúp một chiếc xe mắc rãnh. Hôm nay hắn chỉ nói đường rồi để người kia đi một mình. Thanh Nghi nghe hắn nói, hỏi:
“Người ấy có nhờ ngươi dẫn không?”
“Không. Nhưng nếu ông ấy gặp khó thì sao?”
“Ông ấy biết chỗ nguy hiểm và đã quyết định xuống xem. Nếu chúng ta quay lại, phải tính cả lúc tới trạm và việc Xám đã đi bao lâu.”
Dư An nói thêm: “Giúp được thì giúp. Có khi điều người khác cần là một lời chỉ đúng, không phải ta quyết thay họ.”
Bảo không hết lo ngay. Hắn quay đầu nhìn một lần, nhưng khúc đường đã bị hàng cây che. Hắn đặt tay lên dây dẫn, tiếp tục bước cạnh Xám.
Trạm kế hiện ra lúc chiều chưa tắt nắng. Mái ngói thấp nằm sau một khoảng sân; trước cửa có hai chiếc xe và một tấm bảng ghi giờ nhận hàng. Người giữ trạm chỉ chỗ nghỉ, nói đêm nay còn một gian nhỏ đủ cho bốn người nếu không ngại nằm gần nhau. Họ hỏi giá, góp tiền rồi gửi Xám ở mái phụ.
Bảo hỏi có ai mới từ bến gần Lạc Kê tới không. Người giữ trạm chỉ một người đang vá bao ở góc sân. Ông ấy vừa đi từ bến nhưng chỉ đến nhận hàng, không đi vào làng. Bảo hỏi tên người bán muối; ông nhận ra cái tên, nói bà vẫn bán ở gần mái nghỉ.
“Chú có thấy bà đưa thư cho ai không?”
“Ta không thấy. Sáng nay bà đang cân muối cho khách, ta chỉ đi ngang.”
Bảo cảm ơn. Tin ấy không đưa lá thư đến gần hơn, nhưng ít nhất bà bán muối vẫn ở nơi họ định tìm. Hắn ghi thêm lời người vá bao, rồi hỏi khoảng đường từ trạm tới bến. Ông chỉ hai lối: một lối sát nước ngắn hơn, lối trên cao dài hơn nhưng sau mưa thường dễ đi hơn. Ông không biết đoạn bờ sụt nhóm vừa qua có ảnh hưởng đến lối dưới ở phía khác hay không.
Họ quyết định sáng mai hỏi thêm ở trạm, rồi xem thời tiết trước khi chọn. Bảo không vẽ đường chưa biết thành nét liền; hắn vẽ hai nét đứt và ghi tên người chỉ bên cạnh.
Tối, Thanh Nghi nấu phần rau còn lại cùng ít gạo mua ở trạm. Dư An lấy nước, Hổ kiểm lồng và đệm. Bảo giúp nhóm lửa bằng bếp của quán sau khi hỏi người giữ trạm. Hắn không mở gói nồi đen; chiếc vung cũ vẫn được bọc riêng trong sọt.
Trước khi ngủ, hắn nhìn ra mái phụ. Xám đã ăn, đứng yên bên máng; Ô Kê ở trong lồng, then đã qua hai vòng và có nút dây giữ. Hắn kéo thử cửa một lần, thấy không bật, rồi đặt bát nước rỗng lên kệ để sáng mai dùng.