Chương 271: Ba Bậc Đá
Sáng ra, vệt hằn trên lưng Xám đã nhạt.
Hổ kiểm lại chỗ ấy dưới ánh sáng, bảo Tạ Tiểu Bảo sờ xem da có nóng hơn phần bên cạnh không. Bảo đặt tay, không thấy khác rõ. Người trông quán cũng nhìn, dặn nếu buộc lại thì trải phẳng đệm và dừng kiểm sau một đoạn.
Người thợ đến khi họ đang ăn sáng. Ông xem chiếc đòn gánh nứt của người bán nồi, báo giá thay chốt và gia cố đầu đòn. Người bán đồng ý. Ông thợ tháo đoạn dây Bảo cho mượn, trả lại hắn trước khi làm. Bảo cuộn dây, cất vào túi; hắn còn nhớ Hổ đã bảo giữ dây dự phòng riêng với giấy.
Đòn gánh sửa xong, người bán nồi thử nhấc hai sọt. Ông nhún vai, thấy cân hơn, rồi trả tiền công. Ông sẽ đi cùng nhóm Bảo đến trạm cũ, sau đó rẽ sang chợ. Chủ quán đưa mỗi bên một bình nước đã trả tiền, dặn đoạn bậc đá hôm qua có người đi qua nhưng không biết sau đó có thêm đá rơi không.
Họ chào bà, ra đường khi nắng vừa lên. Bảo dẫn Xám, Hổ giữ phía lồng Ô Kê. Con gà đang yên, đầu thỉnh thoảng thò qua khe nan. Thanh Nghi cầm tờ ghi đường, Dư An đi cạnh người bán nồi.
Đường đầu dốc thoải. Xám bước đều, không dừng ăn liên tục như hôm trước. Bảo định khen thì nó lại kéo dây sang bụi cỏ. Hắn chờ nó gặm mấy ngọn, sau đó gọi và bước tiếp. Con la đi theo, chiếc lồng hơi lắc nhưng không chạm chân sau.
Qua một khúc cua, ba bậc đá hiện ra trước mặt. Bên trong là vách, bên ngoài thấp xuống ruộng. Mặt bậc giữa bị vỡ một góc, chỗ còn lại không rộng bằng hai chiếc sọt trên lưng Xám. Một vệt bùn khô chạy qua mép đá, có thể là dấu chiếc lừa người bán nồi nhắc, nhưng không nói được nó mang tải lớn đến đâu.
Hổ đi trước, đứng trên bậc trên cùng. “Nếu để cả hai sọt, một bên sẽ quệt vách.”
Thanh Nghi nhìn phía ngoài. “Cũng không nên dắt sát mép ruộng để tránh vách. Đất ở đó mềm.”
Họ tìm được khoảng bằng dưới bậc để tháo đồ. Người bán nồi đặt hai sọt của ông xuống trước, giúp Hổ giữ Xám. Bảo tháo lồng Ô Kê, đặt lên chỗ cao, giữ cửa quay vào trong. Thanh Nghi chuyển gói nồi và vung qua trước, đặt dưới gốc cây phía trên bậc, xa mép đường. Dư An mang túi giấy và thuốc, kiểm lớp vải bọc vẫn khô.
Khi Xám không còn tải, lối qua rộng hơn nhưng bậc giữa vẫn bị vỡ. Bảo đứng ở phía trước, giữ dây chùng. Con la đưa chân lên bậc đầu, dừng ngửi mặt đá. Người bán nồi nhắc mọi người lùi ra, đừng đứng ngay sau nó. Bảo chờ. Xám bước tiếp, đặt chân lên phần bậc còn nguyên, rồi qua đến chỗ bằng.
Hổ theo sau, nhận dây dẫn. Bảo trở lại chuyển chiếc sọt rỗng. Đến lượt lồng Ô Kê, hắn đi chậm, giữ lồng ngang để con gà không trượt. Nó mổ vào nan, nhưng không kêu. Người bán nồi nhờ Thanh Nghi giữ một đầu đòn gánh, lần lượt đưa hai sọt qua. Ông không để ai xách thay cả hai cùng lúc vì miệng sọt chưa buộc kín.
Phía trên bậc, họ xếp lại tải và kiểm từng túi. Chiếc vung cũ vẫn nằm riêng trong lớp vải, gói nồi không bị ướt. Bảo thử nút dây phía lồng, thấy đầu dây đủ dài. Hổ chỉnh lại đệm để vệt hằn không trùng chỗ dây cũ. Sau vài bước, họ dừng kiểm lần nữa.
Người bán nồi uống nước rồi chỉ về phía trước. “Qua dãy cây kia sẽ thấy trạm.”
Trạm cũ có một cổng gỗ thấp, mái đã được vá bằng nhiều tấm ngói khác màu. Một bên là kho hàng, bên kia có quán nghỉ và mấy chỗ buộc gia súc. Người bán nồi chào một người giữ cổng, nói mình rẽ sang chợ. Ông trả đoạn dây Bảo đã cho mượn sau khi đã sửa đòn, cảm ơn cả nhóm rồi đi.
Bảo hỏi người giữ cổng về quán mà người gánh vải đã nhắc. Ông chỉ phía cuối sân, nói bà chủ vẫn bán nước và nhận khách nghỉ. Bảo cùng Hổ dắt Xám đến, hỏi giá chỗ buộc và cỏ. Bà chủ nói hôm nay còn chỗ, giá khác một chút so với lần người gánh vải đi; họ tính lại, quyết định để la nghỉ ở đó trong lúc hỏi đường.
Dư An hỏi nhà bán thuốc trong chợ. Bà chủ nói ông bán thuốc vẫn ở đây, nhưng hôm nay có thể ra ngoài giao hàng. Bà chỉ quầy và dặn phải tự hỏi; bà không biết ông có những thứ gì. Dư An nói mình sẽ đi xem sau bữa trưa.
Bảo tìm nơi nhận thư. Người giữ cổng chỉ một bàn ở kho. Người ghi hàng cho biết chiều mai có xe về phía trạm lớn; nếu Bảo gửi, thư sẽ được giao cho trạm ấy, còn chuyện chuyển tới ngoại viện phụ thuộc chuyến tiếp. Hắn trả phí theo thỏa thuận, viết thêm vào mảnh tin: cả nhóm đã đến trạm cũ, đang hỏi đường xuống nhà nghỉ gần bãi đá, có thể về muộn. Hắn không viết đã có lối đi.
Thanh Nghi gửi một mảnh riêng cho bà Liên, nhắc những giờ giữ lửa đã bàn và nói nàng sẽ báo tiếp khi biết ngày về. Hổ viết lời cho người phụ trách sân; Bảo giúp anh đọc lại tên và địa chỉ. Ba mảnh thư được gói riêng. Người nhận ghi số mảnh đã nhận và nơi sẽ giao, đưa họ một tờ xác nhận.
“Lần này ta biết họ sẽ đưa đến trạm lớn,” Bảo nói khi ra khỏi kho.
“Nhưng chưa biết từ đó đến bàn cửa,” Thanh Nghi đáp.
“Con biết. Con sẽ giữ tờ nhận.”
Tại quán, bà chủ đưa ra một nồi cháo đậu. Bảo ăn hai bát, Hổ ăn một bát đầy rồi xin thêm bánh. Dư An để túi thuốc bên mình, ăn chậm. Thanh Nghi hỏi bà chủ có ai từ nhà nghỉ trước bãi đá vừa tới không.
Bà chỉ một người ngồi cuối bàn. Ông vừa mang hàng từ phía ấy lên, đến trạm chiều hôm qua. Bảo chờ ông ăn xong rồi đưa tên nhà nghỉ cho xem.
“Ta có đi qua,” ông nói. “Nhà vẫn mở. Nhưng lối xuống từ trạm có một cây cầu nhỏ phải sửa sau mưa. Hôm qua người đi bộ qua được nhờ tấm ván đặt tạm; ta không đưa gia súc qua.”
Bảo nhìn Hổ. Một cây cầu cần sửa lại nằm trên đường họ định đi. Hắn hỏi có lối vòng khác không. Người mang hàng nói có đường hàng phía trên đi xa hơn, tới một ngã rẽ khác rồi mới xuống phía nhà nghỉ; ông không đi lối ấy hôm qua.
“Cháu muốn gặp người ở nhà nghỉ,” Bảo nói. “Một người đã nhờ chuyển thư cho bà Mạnh trong làng.”
Người mang hàng suy nghĩ. Ông nhớ nhà nghỉ có một người thường mang thư và hàng nhỏ qua bãi khi nước thấp, nhưng không biết ông ấy có nhận lá thư của Bảo không. Ông chỉ cho Bảo cách tìm người giữ nhà nghỉ, không hứa biết chuyện thư.
Bảo ghi lại. Hắn mừng vì nhà nghỉ vẫn mở, nhưng cây cầu nhỏ khiến lối gần không còn đơn giản. Thanh Nghi hỏi ai sửa cầu và khi nào xong; người mang hàng đáp nhóm dân gần đó đang sửa, chưa hẹn ngày hoàn thành. Có thể đến hỏi, nhưng không nên dắt Xám qua tấm ván mà người đi bộ dùng.
Sau bữa, Dư An đi tìm quầy thuốc; Hổ ở lại kiểm Xám. Bảo và Thanh Nghi đến bàn giữ hàng hỏi thêm về đường phía trên. Người ghi hàng lấy bản chỉ tuyến của trạm, cho họ xem đoạn đường hàng tới ngã rẽ, nhưng bản không ghi tình trạng sau mưa. Ông nói sáng mai có một đoàn nhỏ đi hướng ấy, họ có thể hỏi người dẫn đoàn.
Bảo muốn tới cầu ngay. Thanh Nghi nhắc trời đã xế, đường xuống chưa biết rõ và cả nhóm vừa qua ba bậc đá. Hắn nhìn tờ giấy trong tay, đồng ý đợi sáng. Hắn nhờ người ghi hàng nếu đoàn đến sớm thì cho biết; ông nói sẽ chỉ chỗ họ thường tập trung, không hứa gọi hộ.
Tối, Bảo ra xem Xám. Con la đang ăn cỏ, vệt hằn trên lưng nhạt hơn sáng. Ô Kê ở chiếc lồng đặt dưới mái, cửa buộc chắc. Hắn đổ thêm nước vào bát, nhìn con gà uống rồi cất phần thóc còn lại.
Trở vào phòng, hắn trải bản ghi đường. Một nét dẫn tới cây cầu nhỏ, một nét dẫn lên đường hàng phía trên. Hắn chưa chọn; cạnh mỗi nét là tên người đã chỉ và điều họ chưa biết. Bảo đặt đoạn dây người bán nồi trả lên góc giấy, để gió từ cửa sổ không làm nó cuộn lại.