Chương 281: Bàn Ghi Hàng Ở Hắc Nha Pha
Chiếc xe chở hàng nhích qua khỏi bàn, để lại một khoảng trống trước tấm bảng một cánh.
Tạ Tiểu Bảo vẫn đứng cạnh Lâm Hổ. Người ghi hàng ở trạm gấp tờ giấy, đưa cho người đánh xe một bản, rồi gọi người tiếp theo. Trên nền đất có những vệt bánh xe mới, khác với đá vụn Bảo nhớ trong đêm đoàn Tống Ký bị phục kích. Hắn nhìn lên sườn dốc. Giữa những tán cây có một khoảng trống; từ chỗ này hắn không thể biết đó có phải nơi những kẻ cầm cung từng đứng hay không.
“Chúng ta có thể hỏi trước rồi mới đưa Xám tới,” Thanh Nghi nói.
Bảo gật đầu. Hổ nhận dây dẫn, đứng cùng Dư An bên mái che. Hắn và Thanh Nghi đi đến bàn. Người ghi hàng là một người đàn ông trẻ, tay áo xắn cao, đầu ngón tay dính mực. Bên cạnh anh có một người lớn tuổi hơn đang đếm các cuộn dây.
“Chúng ta đi về phía thung lũng,” Thanh Nghi nói. “Có một con la, một con gà và đồ dùng đi đường. Muốn qua trạm thì cần làm gì?”
Người ghi ngẩng lên. “Nếu không gửi hàng ở kho, ta ghi số người, con vật và hướng đi. Gói hàng lớn thì hỏi chủ hàng mang gì, không cần mở mọi thứ. Nếu có việc cần kiểm riêng, ta sẽ nói trước.”
“Ghi để làm gì?” Bảo hỏi.
“Trạm đối số người và hàng đã qua trong ngày, để khi có người hỏi hoặc hàng đi lạc còn biết tìm ở đâu. Cậu có thể xem dòng của mình trước khi ta ghi xong.”
Bảo nhìn cuốn sổ. Những trang khác đã lật sang bên, chỉ còn chỗ trống dưới dòng xe vừa đi. Hắn không biết người ghi có thể dùng tên mình vào việc khác hay không; lời giải thích giúp hắn biết trước mắt người ấy muốn ghi gì, chứ không khiến mọi chuyện đã an toàn.
“Nếu cháu không đồng ý mở một gói thì sao?”
“Ta chưa yêu cầu cậu mở.” Người ghi đặt bút xuống. “Nếu có gói phải kiểm mà chủ không đồng ý, ta sẽ gọi người phụ trách. Không ai ở bàn này tự ép cậu đưa đồ cho ta.”
Người lớn tuổi bên cạnh ngẩng lên, nói mình là người phụ trách buổi sáng. Ông cho biết trạm của Nhất Dực Hội nhận hàng gửi theo thỏa thuận và ghi những đoàn qua đường; kho không phải nơi ai cũng được vào. Ông không nói trạm kiểm có quyền giữ đồ đi đường chỉ vì muốn xem.
Thanh Nghi đưa bản ghi những món nhóm mang. Người ghi đọc: thức ăn, nước, thuốc, đồ cá nhân, lồng gà và một gói nồi. Anh hỏi số người. Bảo chỉ Hổ và Dư An ở mái che, nói cả nhóm bốn người. Anh viết số ấy, để trống phần tên.
“Có cần ghi tên từng người không?” Dư An từ phía sau hỏi vọng tới.
Người phụ trách đáp: “Người dẫn đoàn ghi tên để nếu có tin gửi lại, trạm biết liên hệ. Những người khác chỉ cần ghi số nếu không gửi hàng.”
Bảo nói tên mình. Người ghi viết, đọc lại. Hắn kiểm chữ họ, sửa một nét bị thiếu; anh gạch nét sai, viết lại cạnh đó. Anh không hỏi tên chiếc nồi. Hắn thấy nhẹ hơn, nhưng vẫn nhìn gói vải trên lưng Xám cho đến khi dòng ghi xong.
Hổ dẫn Xám đến chỗ bàn, không buộc sát xe hàng. Ô Kê nhìn những cuộn dây, mổ vào nan lồng. Người lớn tuổi đưa tay định chạm đầu con gà, Bảo nói:
“Nó hay mổ.”
“Ta thấy rồi.” Ông rút tay, nhìn Hổ. “Nước cho la ở máng bên trái. Máng bên phải dành cho ngựa vừa kéo xe.”
Hổ dắt Xám sang. Dư An ở cùng anh, còn Bảo đưa mảnh tin gửi Hứa Đồng ra hỏi bàn nhận thư. Người ghi chỉ một người đàn bà ngồi dưới mái, nói bà phụ trách gói thư chuyển tới trạm núi; phí và ngày đi phải hỏi bà.
Bà nhận thư sau khi đọc địa chỉ và cho biết có chuyến về trạm núi vào ngày mai. Bảo hỏi chuyến ấy có đi tiếp đến ngoại viện không. Bà đáp không, phải chuyển qua trạm lớn. Hắn trả phí chặng đầu, ghi nơi bà hẹn giao và giữ tờ nhận. Lá thư trước đó cũng đã được nhờ chuyển, chưa có tin về đến nơi.
Trong lúc hắn viết, một tiếng gỗ đập mạnh vang lên từ kho. Xám giật đầu, lùi một bước. Hổ giữ dây, đưa con la ra chỗ rộng. Bảo quay lại, thấy hai người đang chuyển một tấm xà xuống sân; một đầu rơi khỏi tay người khiêng, đập vào chân ghế. Không ai bị thương. Người phụ trách gọi họ dừng để kê lại đường chuyển.
Chỉ một tiếng động ấy cũng khiến Bảo nhớ đêm cũ. Hắn đã nghe tiếng lửa và tiếng người la, đã chống phía sau cỗ xe nghiêng, rồi nhìn thấy người phụ nữ ôm đứa bé xuống. Mùi dầu cháy khi ấy vẫn còn trong trí nhớ. Hắn không thấy nó ở đây; trước mặt hắn là tấm xà mới được đặt xuống và một người đang kiểm ghế gãy.
“Ngươi có muốn ra mái che một lát không?” Thanh Nghi hỏi.
Bảo nhìn nàng, gật đầu. Họ đi chậm về chỗ Hổ và Dư An. Hắn ngồi xuống, uống nước. Hổ không hỏi ngay. Khi Bảo nói mình nhớ đến cỗ xe năm ấy, anh chỉ đáp:
“Ta ở đây.”
Một lúc sau, Bảo thấy người phụ trách trạm mang chiếc ghế gãy sang bên, đặt một ghế khác cạnh bàn. Ông cho người ghi hàng tiếp tục, còn hai người chuyển xà đợi lối trống. Bảo hỏi Thanh Nghi:
“Cô còn nhớ cái lệnh bị lấy ở kho giấy không?”
“Nhớ.” Nàng chạm nhẹ vào hông áo, chỗ từng bị cắt dây. “Không phải ở con dốc này. Chúng lấy nó sau đó.”
“Con biết. Nhưng nếu cái kho ở đây có giữ đồ người ta mang đến, liệu có thể hỏi không?”
“Có thể hỏi. Chúng ta chưa biết ai giữ nó, cũng chưa có đủ giấy để đòi ngay.”
Bảo nhớ lần ở kho giấy, gã áo xám dùng móc kéo chiếc bao đen khỏi hông Thanh Nghi. Hắn đã nhìn thấy người ấy trên mái phía xa, còn Thanh Nghi ngăn hắn đuổi theo vì lối giữa hai dãy kho đã có kẻ chặn. Họ rời đi với vết cắt trên tay nàng và chiếc lệnh đã mất. Ký ức ấy ở một nơi khác, không phải đêm xe hàng ở dốc; hắn không muốn trộn hai chuyện chỉ vì giờ trước mặt đều có dấu một cánh.
Hắn cùng nàng quay lại bàn. Người phụ trách nghe câu hỏi, không nhận mình biết về chiếc lệnh số mười bảy. Ông nói kho có hàng gửi và đồ đã được lập sổ theo từng đợt bàn giao, nhưng người ở bàn không thể tự mở hòm để cho khách tìm một vật theo lời kể.
“Nếu chúng ta muốn hỏi đúng người thì gặp ai?” Thanh Nghi nói.
“Người giữ sổ kho đang đi nhận hàng ở dốc phía trên. Chiều có thể về. Ta có thể ghi câu hỏi của các vị, hoặc các vị chờ hỏi trực tiếp.”
Bảo hỏi có được xem danh sách đồ thất lạc không. Ông nói phải hỏi người giữ sổ: có những mục liên quan đến người gửi khác, không thể để khách tự giở toàn bộ. Ông đưa một tờ giấy trống nếu hắn muốn ghi tên vật, đặc điểm và nơi có thể nhận lời trả lời.
Bảo không biết có nên viết ngay tên lệnh trước mặt mọi người. Hắn nhìn Thanh Nghi. Nàng nói việc hỏi chiếc lệnh cũng liên quan tới nàng; hai người có thể bàn ở mái che rồi quyết định cùng nhau. Người phụ trách để họ cầm tờ giấy, không giục.
Bên mái che, Bảo viết nháp “Thái Huyền Lệnh số mười bảy” rồi dừng. Hắn biết tên và số từ lần Thanh Nghi kiểm lại sau vụ cướp, nhưng không biết vật đang ở đây. Nàng nhắc phải ghi nơi mất là kho giấy gần bến Tây, không ghi Hắc Nha Pha chỉ vì họ đang đứng ở dốc. Hắn sửa lại, rồi viết thêm: “Xin hỏi có mục nào khớp; chưa khẳng định trạm đang giữ.”
Hổ mang đến một nắm cỏ mua ở quán. Xám cúi xuống ăn, Ô Kê nhìn theo. Dư An hỏi họ có muốn nghỉ ở quán cạnh trạm để chờ người giữ sổ không. Bảo muốn nghe câu trả lời, nhưng cũng lo ngày về. Người phụ trách nói quán có chỗ, giá phải hỏi chủ; nếu không chờ, hắn có thể để địa chỉ để trạm gửi lời.
Thanh Nghi hỏi Bảo muốn chọn cách nào. Hắn nhìn ngã đường tiếp tục về phía thung lũng, rồi nhìn tờ nháp. Cả nhóm vừa đến, trời chưa tối. Hắn đề nghị chờ tới chiều gặp người giữ sổ, nếu ông không về thì để lại câu hỏi và đi tiếp theo kế hoạch. Mọi người đồng ý.
Người phụ trách nhận bản chép câu hỏi, đọc lại cho họ nghe và ghi tên người nhận là mình. Ông không đóng dấu đã tìm thấy lệnh, chỉ xác nhận đã nhận câu hỏi. Bảo giữ một bản, gấp cẩn thận cạnh tờ nhận thư.
Dư An lấy nước, Hổ dắt Xám tới máng. Bảo đứng dưới mái, nhìn hai người đang đưa tấm xà mới lên kho. Ô Kê thò đầu qua nan lồng, mổ hụt một cọng cỏ. Hắn nhặt cọng ấy lên, đặt xa đầu dây buộc rồi tiếp tục chờ.