Chương 291: Khi Dấu Niêm Được Cắt
Hai ngày sau, Tạ Tiểu Bảo lại đến bàn nhận thư trước bữa sáng.
Người giữ thư chưa mở cửa. Hắn ngồi trên bậc thềm, tay ôm cái bát rỗng, nghe tiếng nước trong bếp sôi rồi im, sôi rồi lại im. Ô Kê đứng cạnh hắn, dùng chân cào vào khe giữa hai viên gạch. Một hạt thóc mắc ở đó từ tối qua; con gà mổ ba lần mới lấy được.
“Ngươi cũng biết chờ à?” Bảo hỏi.
Ô Kê nuốt hạt thóc, lập tức cào tiếp.
Hai ngày này, thư của Thanh Nghi đã được gửi đi. Người đưa tin xác nhận chuyến ngựa của ông Phùng cũng đã rời trạm; còn hồi âm từ hai phía đều chưa tới. Bà quản kho cho phép họ xem lại bản giữ hòm và nhắc thời hạn sắp đến. Thanh Nghi đã xin bàn việc gia hạn, nhưng bà chưa nhận lời trước khi nghe ý kiến bên gửi.
Trong khi chờ, Hổ giúp người sửa mái chở ván từ sân ngoài đến hiên kho. Dư An ở quán xem chân cho một người phu bị bong da gót; ông dặn người ấy đổi giày và giữ vết thương sạch, rồi quay lại kiểm đầu gối Bảo. Thanh Nghi chép riêng các ngày và số giấy liên quan, xếp theo thứ tự để khi hỏi không phải lục cả túi.
Bảo cũng muốn làm việc. Ngày đầu hắn phụ người ghi hàng chặn giấy khỏi bay, bị gió thổi lật mất một tờ, phải chạy theo tận hàng rào. Ngày sau hắn giúp Hổ buộc bó ván. Người sửa mái trả công hai cái bánh. Hắn đem về chia bốn; Hổ nhìn miếng bánh nhỏ trong tay rồi hỏi sao công của anh cũng bị chia.
“Vì anh cùng em buộc,” Bảo đáp. “Nếu chỉ một mình em, anh sẽ được phần lớn hơn.”
Sáng nay, người giữ thư mở cửa thấy hắn ngồi đó liền hỏi đã ăn gì chưa. Bảo giơ cái bát rỗng. Ông bảo bàn thư không bán cháo, nhưng vẫn cúi xem túi giấy vừa mang tới.
Có một phong gửi bà quản kho, ngoài ghi tên ông Phùng và số hòm. Không có thư gửi Thanh Nghi. Bảo không chạm vào phong thư; hắn chạy ra sân báo ông Phùng đang đợi ở quán, rồi trở lại bếp lấy cháo cho mình và Ô Kê.
Đến khi hắn bưng bát ra hiên kho, Thanh Nghi, ông Phùng và bà quản kho đã ở trong phòng bàn việc. Bảo nhìn bát cháo, định đặt xuống ngoài cửa; người giữ sổ bảo hắn cứ ăn xong, cuộc trao đổi chưa bắt đầu. Hắn ăn nhanh quá, bỏng lưỡi, đành đi chậm lại.
Lá thư là hồi âm của bên gửi. Chủ hàng đồng ý mở hòm để kiểm chiếc bao trước mặt người quản kho, ông Phùng và Thanh Nghi. Những vật khác được để nguyên; sau khi kiểm phải niêm lại phần còn trong hòm. Bên gửi chưa đồng ý giao chiếc lệnh ngay, yêu cầu hai bên đưa giấy liên quan để đối chiếu trước.
Ông Phùng chỉ vào dòng cuối. “Họ nói người của điểm tập kết đang tìm giấy kê chuyến hàng, sẽ gửi tin sau. Chưa có câu trả lời về nguồn nhận chiếc bao.”
Thanh Nghi đọc lại và hỏi ai sẽ giữ chiếc bao sau khi mở. Bà quản kho đề nghị tạm giữ tại kho, niêm riêng trước mặt các bên nếu họ cùng đồng ý. Nếu không thống nhất, bà chưa thể tự chọn giao cho một bên.
Bảo nhìn hai người. Hắn muốn Thanh Nghi được nhận ngay nếu thấy đúng chiếc lệnh, nhưng lá thư từ ngoại viện mới báo một dòng sổ, còn biên lai gốc chưa tới. Sau một lúc, nàng nói đồng ý kiểm và tạm niêm riêng, miễn biên bản ghi rõ nàng chưa từ bỏ yêu cầu nhận lại vật.
Ông Phùng đọc câu ấy, đề nghị thêm rằng bên gửi cũng chưa từ bỏ yêu cầu của mình. Bà quản kho ghi cả hai, cùng số hòm, tên những người có mặt và cách niêm lại. Người giữ sổ lấy mảnh giấy có đặc điểm Thanh Nghi đã viết riêng, đặt cạnh biên bản nhưng chưa mở.
Hổ và Dư An được mời vào làm người chứng kiến nếu hai bên đồng ý. Ông Phùng nhìn cả hai, hỏi họ có đi cùng Thanh Nghi không. Nàng nói có, Dư An là người chăm sóc trong chuyến đi, Hổ phụ trách vật thồ. Ông Phùng đồng ý họ chứng kiến; bà quản kho ghi tên, không giao họ giữ chìa hay giấy của kho.
Chiếc hòm được hai người phụ kho đặt lên bàn trong gian sáng. Nó nhỏ hơn Bảo tưởng, bằng khoảng hai bàn tay người lớn ghép lại, góc hòm bọc sắt đã sẫm màu. Một dải giấy niêm vòng qua nắp, trên đó có dấu khớp với dòng trạm đã ghi khi nhận.
Bà quản kho mời mọi người xem dấu trước. Thanh Nghi cúi gần, không chạm tay. Ông Phùng đối dấu với giấy gửi, còn người giữ sổ đọc lại ngày nhận. Bảo nhìn đường giấy dán ngang nắp, thấy một chỗ nhăn nhỏ ở mép nhưng không thấy rách.
“Cháu có được ghi chỗ nhăn ấy không?” hắn hỏi.
“Được,” bà quản kho đáp. “Ta cũng sẽ ghi vào biên bản. Nhăn không tự nói được lúc nào xảy ra, nên ta ghi đúng điều thấy.”
Người giữ sổ viết xong, đọc cho mọi người nghe. Ông Phùng lấy chìa khóa đặt cạnh hòm. Bà quản kho dùng lưỡi dao mỏng cắt dải niêm ở mép nắp, giữ lại hai đầu giấy. Tiếng giấy rách rất nhỏ, nhưng Bảo vẫn giật mình. Từ ngày nhìn thấy số hòm, hắn đã tưởng tượng tiếng này nhiều lần; trong tưởng tượng, nó luôn lớn hơn.
Ông Phùng mở khóa. Bà quản kho nâng nắp vừa đủ để nhìn vào. Trong hòm có ba gói vải đặt cạnh nhau và một túi nhỏ buộc dây đen. Bà không lấy các gói khác ra, chỉ hỏi ông Phùng có nhận biết được chiếc túi theo giấy không. Ông nói hình dáng giống mục ghi, còn bên trong ông chưa thấy.
Thanh Nghi nắm chặt mép bàn. “Chiếc bao của ta lớn gần bằng thế. Dây cũng màu đen, nhưng ta cần xem đường buộc.”
Bà quản kho nhấc túi lên, đặt trên một tấm vải sạch. Dây buộc có nút kép, một đầu ngắn hơn đầu kia. Thanh Nghi nhìn hồi lâu rồi nói đó là cách nàng thường buộc, nhưng chiếc dây như vậy không đủ để kết luận. Nàng xin mở túi trước mặt mọi người.
Ông Phùng nhìn bà quản kho. Ông nói lời chủ hàng cho phép kiểm chiếc bao được nhắc tới; việc mở dây là cần thiết để kiểm lệnh. Bà ghi tình trạng nút buộc, rồi nhờ ông Phùng và Thanh Nghi cùng xem trước khi tháo. Bảo đứng sát Hổ, hai bàn tay siết đến hằn móng.
Trong túi là một miếng vải nhỏ bọc vật cứng. Khi bà mở vải, một chiếc lệnh kim loại lộ ra, trên mặt có số mười bảy. Ánh sáng từ cửa sổ rơi lên cạnh lệnh, để lộ vết xước mảnh gần một góc.
Thanh Nghi hít vào. Nàng nhìn số, rồi nhìn sang mặt còn lại, song chưa đưa tay. Bà quản kho hỏi nàng có muốn mở mảnh giấy ghi đặc điểm riêng không. Nàng gật đầu.
Người giữ sổ mở giấy trước mặt mọi người. Ông đọc chi tiết Thanh Nghi đã ghi: ở mặt sau có một vết khuyết nhỏ sát mép, gần lỗ xỏ dây. Bà quản kho trở chiếc lệnh bằng tấm vải lót. Vết khuyết nằm đúng chỗ được mô tả.
“Là chiếc ta nhớ,” Thanh Nghi nói, giọng thấp. “Ta muốn xem kỹ hơn, nhưng không cần cầm ra khỏi bàn.”
Bà quản kho để nàng nhìn cả hai mặt. Nàng chỉ thêm một vệt xước gần góc và nói không nhớ vệt ấy có từ trước hay không. Ông Phùng cũng cúi xem, rồi xác nhận đã nghe đặc điểm trên giấy được đọc sau khi chiếc lệnh được lấy ra. Ông chưa biết chi tiết ấy trước lúc mở.
Bảo nhìn vật trên tấm vải. Hắn nhớ bàn tay áo xám giật chiếc bao trong khói, nhớ mái kho giấy và cái bóng đi xa. Hôm đó hắn không nhìn thấy chiếc lệnh. Hôm nay vật ở ngay trước mặt, nhưng người giữ chìa vẫn ngồi phía bên kia bàn, và biên lai họ cần chưa có ở đây.
Ông Phùng hỏi: “Đặc điểm khớp. Giấy của cô khi nào tới?”
“Ta chưa biết ngày. Người ở ngoại viện đã tìm được mục ghi giao lệnh, đang hỏi tờ nhận riêng.” Thanh Nghi nhìn ông. “Ta có thể cho ông xem lá thư báo đã tìm được sổ, nhưng đó chưa phải bản gốc.”
Ông đọc thư, nói mình cần báo chủ hàng về kết quả kiểm và xin giấy từ bên giao. Bà quản kho viết biên bản: số hòm, tình trạng niêm, chiếc bao, chiếc lệnh số mười bảy, chi tiết khớp với giấy ghi trước khi mở và lời trình bày của hai bên. Bà để trống phần kết luận quyền nhận, rồi đưa từng người đọc.
Bảo đọc chậm. Đến dòng mô tả vết khuyết, hắn hỏi có nên ghi thêm vết xước ở góc. Thanh Nghi đồng ý, nhưng nhắc ghi cả việc nàng không chắc nó xuất hiện từ khi nào. Người giữ sổ thêm câu ấy. Ông Phùng ký, Thanh Nghi ký, Hổ và Dư An ký làm chứng. Bảo cũng ký dưới phần mình có mặt quan sát, không ký thay người đã trực tiếp nhận lệnh.
Chiếc lệnh được bọc lại trong tấm vải nhỏ, đặt vào bao. Bà quản kho niêm bao riêng, ghi số và chữ ký của những người có mặt. Ba gói còn lại được kiểm bên ngoài, vẫn ở vị trí cũ; chiếc hòm được khóa và dán niêm mới. Bà cho mỗi bên một bản biên bản, còn vật tạm giữ trong kho theo thỏa thuận.
Khi cánh cửa kho đóng lại, Bảo đứng nhìn đôi tay mình. Chúng sạch, chỉ có vết móng hằn trên lòng bàn tay. Hắn chưa đem chiếc lệnh ra ngoài, nhưng đã thấy nó; dấu hỏi trong sổ có thể sửa thành một câu khác.
Hắn ngồi xuống cạnh chiếc ghế cũ, viết: “Trong bao có lệnh số mười bảy; đặc điểm Thanh Nghi ghi trước khi mở khớp.” Bên dưới, hắn thêm: “Còn chờ giấy gốc để đối việc nhận lại.”
Ô Kê nhảy lên bậc, mổ vào đầu bút. Một chấm mực rơi cạnh dòng chữ. Bảo vội nhấc bút, lau mỏ cho nó bằng góc khăn, rồi thổi cho chấm mực khô. Phía bên kia sân, ông Phùng đang cúi viết thư cho chủ hàng dưới ánh nắng cuối ngày.