Chương 292: Mặt Sau Tờ Giấy
Sáng hôm sau, Tạ Tiểu Bảo đến bàn kho cùng Lục Thanh Nghi. Trên tay nàng là bản biên bản mở hòm đã được gấp cẩn thận; trên tay hắn là hai cái bánh còn ấm, mua bằng tiền công hôm trước.
“Cháu mua cho ông giữ sổ một cái,” hắn nói. “Ông ấy viết nhiều quá.”
Thanh Nghi nhìn hai cái bánh. “Còn cái kia?”
“Để cháu thử xem bánh có ngon không trước khi đưa.”
Người giữ sổ đang kiểm lại giấy niêm của chiếc bao. Ông nhận bánh, cảm ơn rồi đặt lên góc bàn xa chồng giấy. Bảo thấy vậy cũng không ăn trong phòng, mang cái còn lại ra hiên. Ô Kê đi theo, ngước cổ nhìn hắn từ dưới chân ghế.
“Ngươi ăn sáng rồi.”
Nó mổ vào dép hắn. Bảo bẻ một mẩu nhỏ để xuống đất, sau đó nhấc chân lên trước khi mỏ gà chạm lần nữa.
Bà quản kho kiểm dấu niêm cùng người giữ sổ. Hôm qua chiếc bao chứa lệnh đã được niêm riêng trước mặt Thanh Nghi, ông Phùng và những người chứng kiến. Hôm nay bà chỉ đối dấu bên ngoài, không mở. Thanh Nghi được xem số ghi trên giấy niêm và chữ ký của mình. Ông Phùng cũng đến, cúi nhìn dấu rồi gật đầu.
“Chủ hàng của ta cần biết thời hạn giữ vật riêng,” ông nói. “Ta đã báo kết quả kiểm, nhưng chưa nhận được lời về giấy kê.”
Thanh Nghi đưa thư từ ngoại viện. “Người ta nhờ đã thấy mục giao lệnh trong sổ. Ta đang hỏi cách đối bản gốc và tìm biên lai.”
Bà quản kho lấy tờ giữ hòm ban đầu. Thời hạn ghi trên đó chỉ còn đến ngày mai. Bà nói biên bản mở hòm hôm qua có thỏa thuận tạm giữ chiếc bao, nhưng chưa ghi ngày kết thúc; nếu để như vậy, mỗi bên có thể hiểu khác. Bà đề nghị cùng viết rõ thời gian giữ bao, tách khỏi việc giữ ba gói còn lại trong hòm.
Ông Phùng hỏi: “Ba gói khác có thể giao cho ta không?”
Thanh Nghi đáp nàng không nhận chúng là của mình. Bà quản kho nói cần kiểm lại giấy của chủ hàng và tình trạng niêm mới trước khi giao; bà không muốn vừa mở hôm qua đã tự sửa biên bản mà không ghi rõ. Ông Phùng đồng ý cùng kiểm, nhưng nhấn mạnh ông chỉ có thể nhận đúng phần được ủy nhiệm.
Bảo nghe mà thấy hơi lạ. Hắn đã nghĩ cả hòm phải nằm lại cho tới khi chiếc lệnh được trả. Nếu ba gói kia không liên quan, giữ chúng có giúp tìm giấy không? Hắn hỏi, và bà quản kho đáp bà chưa biết các bên sẽ quyết thế nào, chỉ chắc rằng không thể coi ba gói là bằng chứng về chiếc lệnh khi chưa ai nói chúng chứa gì liên quan.
Thanh Nghi xin giữ chiếc bao thêm một khoảng để người ở ngoại viện hồi âm. Nàng nói rõ chưa có ngày giấy gốc đến. Ông Phùng muốn thời hạn ngắn hơn vì không thể ở trạm mãi. Ông phải đi làm chuyến khác, nếu chờ lâu sẽ mất tiền công đã hẹn.
“Ông có thể cử người khác thay không?” Bảo hỏi.
“Có thể hỏi chủ hàng. Ta không có quyền tự chuyển phần việc này.” Ông Phùng nhìn cái khóa hòm đã đặt trong túi. “Nhưng nếu có người thay, ta cũng phải giao đủ giấy và nói rõ đã làm đến đâu.”
Sau một hồi trao đổi, bà quản kho đề nghị giữ chiếc bao thêm năm ngày tính từ hôm nay. Nếu hết hạn mà giấy chưa đến, bà sẽ gặp hai bên hoặc người được họ chỉ định để quyết định tiếp; không tự hiểu là được giao vật. Thanh Nghi đồng ý. Ông Phùng nói cần báo chủ hàng, song có thể ký xác nhận mình đã nhận đề nghị và chưa phản đối việc giữ trong thời gian chờ hồi âm. Bà ghi đúng lời ấy, không biến nó thành chữ đồng ý thay chủ hàng.
Bảo nhìn năm vạch nhỏ trên lịch gỗ. Hắn muốn hỏi sao không giữ hẳn một tháng, nhưng thấy ông Phùng đang tính tiền thuê chỗ ở trên bàn tay. Năm ngày chưa làm chiếc lệnh thuộc về ai, chỉ cho họ thêm thời gian để tìm câu trả lời.
Ra khỏi phòng, hắn gặp Hổ đang dắt Xám từ máng nước về. Anh hỏi tình hình. Bảo kể đã xin thêm thời gian, nhưng bên gửi còn phải trả lời. Hổ nghe xong, nói quán chỉ giữ phòng cho nhóm đến hết ngày mai; họ cần hỏi tiếp nếu muốn ở lại.
Bốn người ngồi dưới mái. Thanh Nghi đếm tiền của nàng, Hổ đếm phần tiền đường, Dư An nhắc còn phải mua thuốc và cỏ. Bảo mở túi, đổ mấy đồng tiền của mình lên mặt bàn. Một đồng lăn tới mép; Ô Kê lao theo, nhưng Hổ chặn lại trước khi nó kịp mổ.
“Cháu góp được bao nhiêu?” Bảo hỏi.
Hổ không đẩy tiền trả lại ngay. Anh cùng hắn đếm, tách phần cần cho đường về và phần có thể dùng ở trạm. Bảo thấy số còn lại ít hơn mình tưởng. Hắn im một lát rồi lấy cái bánh chưa ăn hết ra bẻ đôi, đưa Hổ một nửa.
“Bánh này không tính vào tiền phòng,” Hổ nói.
“Em biết. Anh đếm tiền lâu quá, ăn đi.”
Thanh Nghi đề nghị nàng trả tiền phòng cho những ngày chờ giấy của mình. Dư An bảo chuyến đi là việc cả nhóm cùng quyết, không nên để nàng tự gánh hết; nhưng ông cũng không muốn dùng sạch tiền đường trước khi biết có thể đi tiếp lúc nào. Cuối cùng họ chọn thuê thêm hai đêm, sau đó xem tin và tiền còn lại. Bảo cất phần tiền đường riêng, không đặt chung với tiền bánh nữa.
Đầu giờ chiều, người giữ thư mang tới hai phong. Một gửi ông Phùng từ điểm tập kết; một gửi Thanh Nghi, qua trạm núi từ ngoại viện. Hắn gọi cả hai đến bàn, đối tên rồi mới trao.
Thanh Nghi mở thư trước. Người quen của nàng đã hỏi người phụ trách sổ. Mục ghi giao lệnh còn trong quyển sổ cũ, có số mười bảy và tên người nhận. Tờ biên lai riêng không nằm cùng quyển ấy; người phụ trách nói bản của kho được lưu trong bó giấy giao nhận chuyển sang một phòng khác. Họ đang tìm bó đó.
“Lại một phòng khác,” Bảo lẩm bẩm.
Nàng không trách hắn. “Nhưng lần này đã biết phải tìm bó nào.”
Trong thư còn có đề nghị: nếu cần xem sổ gốc, Thanh Nghi có thể tới ngoại viện, hoặc nhờ người phụ trách lập bản trích có xác nhận. Người viết không nói một bản trích sẽ thay được biên lai riêng. Nàng đọc lại đoạn ấy rồi đưa Dư An xem.
“Đi về ngoại viện mất mấy ngày?” Bảo hỏi.
Dư An tính theo đường thường, rồi lắc đầu. “Ta không biết đoạn đường sau mưa đã thông thế nào. Nếu đi, phải hỏi tuyến trước.”
Thanh Nghi nói có thể nhờ lập bản trích để bàn với kho, đồng thời tiếp tục tìm biên lai. Nhưng nếu cần cầm bản gốc đến đây, nàng sẽ phải bàn với người giữ giấy và người quản kho, không thể tự bảo họ đưa đi.
Phong thư của ông Phùng mỏng hơn. Ông mở, đọc xong thì nhíu mày. Người ở điểm tập kết tìm được bản kê hàng để đóng hòm; họ ghi chiếc bao theo lời người giao, kèm số mười bảy. Không có tên Thanh Nghi trong mục ấy. Thư không kèm bản kê, chỉ nói bản đang được giữ tại điểm tập kết.
“Người giao bao là ai?” nàng hỏi.
“Thư không ghi.” Ông chỉ dòng cuối. “Họ bảo người lập kê đã chuyển việc, đang hỏi lại.”
Bảo nhìn hai lá thư trên bàn. Một lá nói có tên Thanh Nghi trong sổ giao lệnh. Lá kia nói điểm tập kết nhận bao theo lời người giao. Hắn hỏi ông Phùng: “Người giao nói bao là của họ sao?”
“Trong thư không viết thế.” Ông Phùng đẩy lá thư cho bà quản kho. “Ta chỉ biết họ kê bao vào hòm theo lời người giao. Muốn biết lời ấy cụ thể, phải xem giấy hoặc hỏi người lập.”
Bà quản kho đọc xong, nói hai lá thư giúp xác định nơi tìm giấy nhưng chưa thay được giấy cần đối. Bà đề nghị ghi nhận nội dung mỗi bên báo, kèm ngày thư; nếu có bản trích hoặc bản gốc tới thì đối trực tiếp. Ông Phùng đồng ý, Thanh Nghi cũng vậy.
Bảo lại gần bàn. Hắn cầm bút, vẽ hai đường trên trang sổ: một đường từ ngoại viện đến Thanh Nghi, một đường từ người giao bao chưa biết tên đến điểm tập kết rồi tới hòm. Hắn để khoảng trống giữa hai đường, không nối bằng nét mực như thể mình đã biết.
Người giữ sổ liếc qua. “Cậu vẽ dễ nhìn hơn ta ghi.”
“Nhưng cháu vẫn không biết ở giữa là ai.”
“Vậy cứ để trống.” Ông cầm lá thư của Phùng, lật mặt sau rồi khựng lại. “Chữ này là địa chỉ nhận hồi âm, hay tên người lập kê?”
Ông Phùng nhìn kỹ. Mặt sau có một dòng viết nhỏ dưới mép gấp. Ông tưởng đó là tên chỗ gửi nên chưa đọc. Bà quản kho đưa đèn lại gần: dòng chữ là lời nhắn của người ở điểm tập kết, nói bản kê có ghi ký hiệu của người giao, có thể hỏi người lập để tra tên trong sổ nhận.
Bảo ngẩng lên. “Không có tên ngay trên giấy kê?”
“Thư nói là ký hiệu,” ông Phùng đáp. “Ta sẽ hỏi sổ đối ký hiệu ấy. Nhưng ta chưa biết họ có ghi đủ tên không.”
Ông lấy giấy viết câu hỏi. Thanh Nghi nhờ thêm số hòm và số giấy chuyến để người nhận tìm đúng mục. Viết xong, ông đưa nàng xem dòng liên quan trước khi gấp. Nàng đối lại với bản chép của kho; chỉ có một nét số bị thiếu, ông sửa và ký bên cạnh.
Buổi chiều, Bảo cùng Hổ mang thư ra bàn nhận. Người đưa tin nói chuyến đi về phía điểm tập kết sẽ rời sáng mai. Hắn hỏi có người đi sớm hơn không; người đưa tin chỉ một người khách đang chuẩn bị ngựa, nhưng không biết người đó có nhận thư hay qua đúng nơi. Bảo quay lại hỏi Thanh Nghi. Nàng chọn gửi theo chuyến đã có sổ nhận, không nhờ người khách chưa hỏi rõ đường.
Họ trở lại quán khi trời vừa tối. Dư An đang giúp bà chủ nhấc nồi canh khỏi bếp; Thanh Nghi hong lại túi giấy gần cửa sổ. Bảo đặt bát cho Ô Kê, rồi lấy sổ ra nhìn hình hai đường mình vẽ. Hắn thêm một ô nhỏ cạnh điểm tập kết, viết vào đó: “Sổ đối ký hiệu.”
Bên cạnh ô còn trống, hắn không viết tên ai. Ngoài sân, ông Phùng kiểm lại quai túi để chuẩn bị cho chuyến việc mới. Trước khi vào phòng, ông dừng ở cửa, nói sáng mai sẽ gửi lời xin chủ hàng cho người khác nhận bàn giao nếu mình phải rời trạm. Thanh Nghi cảm ơn và hẹn cùng ông ghi lại những giấy đã trao đổi.
Bảo gấp sổ. Cái bánh ban sáng chỉ còn một mẩu, hắn định để dành đến mai. Ô Kê nhảy lên phản, nghiêng đầu nhìn. Hắn bẻ đôi mẩu ấy, đưa nó một nửa; nửa còn lại cất vào túi, lần này buộc thật chặt.