Chương 298: Dòng Giao Hàng Bỏ Trống
Tờ xin gia hạn vừa viết xong thì trời đổ mưa.
Tạ Tiểu Bảo ôm cuốn sổ chạy qua sân, Hổ che đầu bằng chiếc áo ngoài. Hai người đến bàn thư cùng Thanh Nghi; người nhận thư bảo chuyến về phía điểm tập kết đã đi buổi sáng, phải đợi chuyến khác. Ông Khâu đang ở đó, nghe vậy liền hỏi một người cưỡi ngựa vừa vào trạm có đi về phía bến Tây không.
Người kia nói có, nhưng chỉ đến trạm lớn rồi giao túi hàng cho người khác. Ông Khâu không đưa thư ngay. Ông hỏi bàn thư liệu có thể ghi nhận chuyến này, sau đó nhờ trạm lớn chuyển tiếp. Người giữ thư đồng ý nếu người cưỡi ngựa nhận mang và ký vào sổ. Hai bên bàn phí, người cưỡi ngựa xem địa chỉ rồi nhận.
Thanh Nghi nhìn nét ký còn ướt. Nàng nói với Bảo: “Thư đã có người mang tới trạm lớn. Từ đó còn phải chuyển tiếp.”
“Cháu sẽ không ghi là đã tới điểm tập kết.” Hắn đóng sổ. “Nhưng mưa này có làm ngựa đi chậm không?”
Người cưỡi ngựa phủ tấm dầu lên túi, đáp đường có thể trơn, ông sẽ nghỉ nếu cần. Không ai giữ ông lại để xin một lời hẹn chắc chắn. Hổ giúp buộc dây túi hàng, rồi cả nhóm trở lại quán.
Bà Từ ngồi gần cửa sổ, chiếc ống tre đặt cạnh bình nước. Bà đã gửi lời về ngoại viện báo cần ở lại thêm qua chuyến thư hôm trước. Trong lúc chờ, bà hỏi Dư An có thể xem giúp cổ tay mình không; tối qua bà bê túi, cổ tay hơi mỏi. Ông xem, dặn bà nghỉ tay và nếu đau tăng thì tìm người kiểm lại khi về. Bà cảm ơn, đổi chiếc ống sang bên túi còn lại.
Bảo ngồi trên phản, nhìn mưa đổ thành vệt ở đầu mái. Hắn nhặt một miếng gỗ, đặt xuống hứng giọt nước; mỗi giọt rơi làm nó nhích đi chút ít. Ô Kê đứng ở đầu kia, chờ đến lúc miếng gỗ tới gần thì mổ một cái, khiến nó xoay ngang.
“Ngươi làm đường của nó đổi mất rồi.”
Hổ ngồi xuống cạnh hắn. “Đường nước hay đường gỗ?”
“Cả hai.”
Anh lấy cái bát không hứng dưới mái, đưa miếng gỗ lên trên cho khỏi trôi vào rãnh. Bảo định nói mình đang thử xem nó đi đến đâu, nhưng thấy chân áo bà chủ quán vừa vướng vào vũng nước, hắn bèn giúp Hổ chuyển bát ra sát mép sân. Ít nhất chỗ đi vào bếp sẽ đỡ ướt.
Chiều, mưa nhẹ dần. Người giữ thư tới báo có người từ điểm tập kết đến tìm ông Khâu. Bảo nhìn Thanh Nghi; nàng cầm bản biên bản mở hòm, cùng Hổ và Dư An sang kho. Bà Từ mang ống giấy, không để bản gốc ở quán.
Người mới đến là một người đàn ông gầy, tóc buộc thấp, tay ôm túi vải. Ông tự giới thiệu tên Lưu, làm việc ở điểm tập kết, đem theo quyển sổ nhận có mục liên quan đến chiếc bao. Bà quản kho hỏi giấy cử đi. Ông đưa tờ có dấu của điểm tập kết, ghi ông được mang sổ tới để đối mục này và mang về sau đó.
Ông Khâu ngạc nhiên: “Ta vừa gửi lời hỏi, sao ông tới nhanh vậy?”
“Ta đi từ hôm trước. Người ở điểm nhận được câu hỏi trước của ông Phùng về ký hiệu, đã tìm người giao hàng và nhờ ta mang sổ tới. Lá thư mới chắc còn trên đường.”
Ông lấy một quyển sổ mỏng từ túi vải. Trên bìa ghi khoảng ngày nhận hàng. Giữa các trang có dải giấy đánh dấu. Ông mở đúng trang, đặt nó trước bà quản kho và chỉ dòng có ký hiệu người giao, số mười bảy và chiếc bao đen. Ngày nhận trùng với bản chép ông Khâu mang đến.
Thanh Nghi đọc dòng chữ. Ở cột người gửi chỉ có ký hiệu; cột bên cạnh ghi chiếc bao được nhận cùng một nhóm hàng khác. Dưới dòng ấy, chỗ ghi giấy chuyển kèm theo để trống.
“Không có giấy mua hay giấy giao chiếc lệnh?” nàng hỏi.
Ông Lưu đáp: “Trong mục này không ghi. Người giao hàng nói ông nhận bao từ một người giao trước ở bến, kèm lời nhờ đưa theo chuyến. Ông ấy không trực tiếp nhận từ cô.”
Ông đưa thêm một tờ trình bày có chữ ký của người giao hàng. Người ấy viết mình nhận chiếc bao đã buộc, không mở, rồi nộp tại điểm tập kết. Ông nhớ người đưa bao mặc áo ngoài sẫm màu, nhưng không ghi tên vì lúc ấy chỉ nhận theo lời dặn của người phụ trách chuyến. Sau khi được hỏi, ông đã cố tìm lại giấy nhận ban đầu nhưng chưa thấy.
Bảo ngẩng lên. “Áo sẫm có phải áo xám không?”
“Trong lời viết chỉ có thế.” Ông Lưu đặt tay cạnh tờ giấy. “Ta đã hỏi lại lúc nhận bản trình bày. Ông ấy không chắc màu dưới ánh đèn bến, cũng không nhớ mặt đủ rõ.”
Bảo nhớ bóng người trên mái kho giấy. Áo xám, chiếc móc, chiếc bao bị kéo đi. Một người mặc áo sẫm ở bến có thể liên quan, nhưng hắn không thấy người ấy ở bến. Hắn cắn môi, không nói chắc đó là cùng một người.
Ông Khâu hỏi: “Người phụ trách chuyến đã dặn nhận bao là ai?”
Ông Lưu chỉ một dòng trong sổ. Tên người phụ trách có ghi, nhưng ông này đã rời điểm tập kết. Ông Lưu đã nhờ tìm địa chỉ liên lạc; chưa có lời đáp. Ông nói thêm điều khiến mình mang sổ tới: mục nhận không có giấy chuyển quyền hay giấy mua chiếc lệnh kèm theo. Ông đã kiểm bó giấy của chuyến, không thấy tờ nào như vậy, nhưng không thể nói chắc trước đây chưa từng có nếu hồ sơ thất lạc.
Thanh Nghi đưa tờ nhận gốc do bà Từ mang. Bà Từ tự đặt giấy lên bàn, đối số, tên và ngày giao. Người giữ sổ trạm lần lượt đọc các mục: giấy gốc ghi lệnh được giao cho Thanh Nghi; lời của nàng và Bảo ghi chiếc bao bị lấy sau đó; sổ điểm tập kết ghi nhận bao theo ký hiệu người giao; giấy chuyến ghi nhận hòm nguyên niêm.
“Có một đoạn chúng ta vẫn chưa biết,” ông nói. “Nhưng sổ của điểm tập kết không ghi Thanh Nghi giao bao, cũng không có giấy chuyển lệnh kèm mục này.”
Ông Khâu đọc lại tờ trình bày của người giao. “Chủ hàng của ta đã cho phép ta xem và quyết nếu giấy làm rõ cách bao vào chuyến. Ta cần hỏi ông Lưu: sổ này có ghi chủ hàng mua chiếc lệnh không?”
“Không. Nó ghi nhận bao để vận chuyển. Ta không tìm thấy giấy mua trong hồ sơ chuyến.”
“Người giao có nói mình được Thanh Nghi giao không?”
“Không. Ông ấy không nhắc tên cô.”
Ông Khâu nhìn Thanh Nghi, rồi nhìn dòng ngày. Ông nói giấy nhận gốc và chi tiết nàng ghi trước khi mở hòm cho thấy chiếc lệnh được giao cho nàng và khớp với vật trong bao. Phía mình có sổ nhận vận chuyển sau ngày nàng nói bị mất, nhưng không có giấy cho thấy nàng giao hay bán chiếc lệnh. Ông muốn ghi đúng những điều ấy trong bản đối chiếu trước khi quyết.
Bảo nhìn bà quản kho. Hắn đã chờ một lời trả từ lúc biết chiếc hòm còn ở đây; đến bây giờ ông Khâu không bảo trả ngay, hắn lại thấy thời gian kéo dài. Nhưng ông đang ngồi viết, không bỏ đi. Thanh Nghi đọc từng câu ông viết, yêu cầu thêm lời khai của người giao hàng chỉ cho biết ông nhận bao từ một người khác, không xác định người ấy là kẻ lấy bao.
Ông Khâu thêm câu đó. Ông Lưu kiểm ngày trong sổ, chỉ chỗ ông Khâu viết thiếu một nét ở ký hiệu. Ông Khâu sửa lại, ký cạnh chỗ sửa. Bà Từ kiểm phần mô tả tờ gốc, sau đó cất giấy vào bìa khi mọi người đã xem xong.
“Ta không giữ sổ của điểm tập kết,” bà quản kho nói. “Xin ông Lưu cho ta chép riêng dòng này, ghi cả ô để trống và xác nhận đã đối với sổ gốc.”
Ông Lưu đồng ý. Người giữ sổ lấy giấy, chép đủ từng cột, đánh dấu phần trống bằng hai nét để không bị thêm chữ sau. Ông Lưu đối rồi ký xác nhận. Ông Khâu ký đã xem; Thanh Nghi cũng ký vào phần xác nhận mình được xem dòng liên quan. Không ai ký rằng đã tìm được tên kẻ lấy bao.
Bảo hỏi ông Khâu có cần gửi giấy mới về chủ hàng không. Ông chỉ phần ủy nhiệm của mình: ông được quyết nếu các giấy làm rõ việc nhận bao. Ông muốn đọc lại toàn bộ bản đối chiếu và hỏi bà quản kho cách trả vật nếu ông đồng ý; ông không cần xin một lời khác chỉ để đọc giấy.
Câu nói khiến Bảo thấy khó chịu một thoáng, vì hắn đã hỏi như thể ông lại muốn trì hoãn. Ông Khâu không nhìn hắn, đang đối số lệnh trên bản chép với biên bản mở bao. Thanh Nghi đẩy tờ nhận gốc đã được bà Từ cho xem lại tới gần, nhưng bà Từ giữ tờ giấy trên bìa, không chuyển tay.
Ngoài hiên, mưa lại rơi. Bảo nghe nước nhỏ vào cái bát hắn đặt, tiếng trong hơn lúc sáng vì bát đã có nước. Hổ đứng cạnh hắn, không nói gì. Dư An kéo ghế cho bà Từ ngồi nghỉ cổ tay trong khi người giữ sổ chép bản cuối.
Khi văn bản hoàn tất, ông Khâu đọc một lượt. Ông đặt bút xuống, nói sẽ ký vào phần xác nhận các giấy đã được đối và không có căn cứ chuyển quyền trong hồ sơ mà bên ông mang tới. Về việc giao chiếc lệnh, ông muốn bà quản kho ghi rõ bên gửi nhận lại những gói khác rồi, còn chiếc bao được giữ riêng từ ngày mở hòm. Bà đồng ý bổ sung.
Bảo nhận ra ông đang hỏi cách ghi một việc đã xảy ra, không đòi thêm giấy mới. Hắn lấy sổ, tìm trang vẽ hai đường. Lần này, giữa chúng đã có dòng “người giao nhận bao ở bến” và một ô giấy chuyển để trống. Hắn chưa nối tới tên người áo xám; hắn không biết có nên nối hay không.
Bà quản kho hẹn mọi người trở lại sau khi bà kiểm bản đối chiếu với sổ giữ bao. Bà Từ đồng ý chờ thêm trong buổi chiều. Ông Lưu bọc sổ gốc lại, đặt túi lên đùi; ông còn phải mang nó về điểm tập kết. Thanh Nghi ngồi cạnh Bảo, đưa tay giữ tờ giấy khi gió từ cửa lùa vào.
“Lần này sổ của họ cũng nói được một điều,” hắn khẽ bảo.
“Ừ. Nó nói họ nhận bao để chuyển, không ghi rằng ta giao lệnh cho họ.”
Bảo nhìn nét bút trên trang sổ mình. Hắn vẫn chưa biết đoạn từ mái kho giấy tới bến đã qua những ai. Nhưng trên bàn kia, hai tờ giấy cũ và những lời đã ký không còn nằm cách nhau như trước.