Chương 300: Bữa Cơm Trước Lúc Đi
Sáng hôm sau, Tạ Tiểu Bảo tỉnh dậy vì mùi cơm mới.
Hắn ngồi dậy, nhìn quanh. Chiếc nồi đen vẫn bọc vải ở góc phản; mùi cơm đến từ bếp của bà chủ quán. Ô Kê ngủ cạnh lồng, đầu giấu dưới cánh. Bảo rón rén xỏ dép, nhưng vừa chạm tới cửa, con gà đã mở mắt và chạy theo.
“Ta chỉ đi hỏi cơm chín chưa.”
Ô Kê cục một tiếng. Bảo coi đó là lời đồng ý.
Bà chủ đang xới cơm vào một chiếc thúng lót vải. Bà nói có người trong xóm đặt mang đi làm đường. Bảo nhìn lượng cơm, hỏi đường nào cần sửa. Bà chỉ về phía dốc mà nhóm từng đi qua: mưa khoét mép đường, mấy nhà cùng góp người dọn đá và gia cố lối cho xe.
“Là chỗ chiếc xe gốm bị để lại?” hắn hỏi.
“Có thể là chỗ ấy. Ta chưa tự đến xem, chỉ biết họ nhờ nấu cơm.”
Bảo xin giúp buộc thúng. Bà đưa hắn hai dải vải sạch, dặn đừng ép nắp xuống cơm nóng. Hắn buộc một vòng, thấy tay cầm bị kẹt, lại tháo ra làm lại. Ô Kê tiến đến mổ vạt vải; hắn đặt bát thóc ở góc bếp, cuối cùng con gà mới chịu rời thúng.
Dư An xuống sau, xem đầu gối Bảo rồi hỏi hôm nay hắn thấy thế nào. Hắn nói đi quanh sân không còn căng, nhưng chưa thử đường dốc. Ông nhắc lát nữa xếp đồ xong có thể đi một quãng ngắn; nếu ổn, cả nhóm sẽ tính giờ lên đường. Không ai cần đi chỉ vì đã báo dự định trong thư.
Ở bàn cạnh cửa, Thanh Nghi đang gấp giấy nhận lại lệnh. Nàng đã viết thư cho người ở ngoại viện, báo đã nhận vật và xin gửi tin tiếp nếu có lời từ điểm tập kết. Bên cạnh là lá thư cho Hứa Đồng, do Bảo viết từ tối qua. Hắn đọc lại: nhóm còn ở Hắc Nha Pha, đã tìm được lệnh, dự định tiếp tục về phía thung lũng; ngày trở lại ngoại viện chưa chắc vì đường phải hỏi thêm.
Hổ nhìn qua vai hắn. “Em có ghi chuyện cái bánh không?”
“Có. Cháu ghi anh đã mang bánh về nguyên vẹn.”
“Nguyên vẹn đến lúc nào?”
“Đến lúc cháu nhận.” Bảo chỉ một dòng nhỏ phía dưới. “Sau đó là việc khác.”
Thanh Nghi bật cười, đưa hắn phong bì. Họ đến bàn thư, trả phí và giữ tờ nhận cho chuyến về trạm núi. Người giữ thư nói bà Từ và ông Lưu đã hỏi đường, có đoàn hàng đi cùng hướng trong buổi sáng. Bà Từ sẽ mang giấy gốc về ngoại viện; ông Lưu tách đoàn ở ngã về điểm tập kết.
Bảo gặp hai người dưới mái che. Bà Từ kiểm lại lớp bọc ống tre, ông Lưu ôm túi sổ trước ngực. Thanh Nghi đưa bà một mảnh thư ngắn nhờ chuyển về phòng lưu: tờ nhận đã được đối, lệnh đã trả, bản xác nhận bà Từ mang theo. Bà Từ nhận, nhắc mình chỉ giữ giấy trên đường; khi giao về sẽ báo lại người phụ trách.
Ông Lưu nói nếu tìm được người phụ trách chuyến cũ, điểm tập kết sẽ gửi tin theo địa chỉ Thanh Nghi để lại. Bảo hỏi ông có biết cây cầu trên đường về thung lũng không. Ông nói đã nghe người chở hàng kể cầu gỗ cũ bị hỏng, nhưng ông chưa đi qua gần đây, cũng không biết có chỗ vượt khác hay không.
“Cậu hỏi người đi từ phía ấy sẽ tốt hơn,” ông nói. “Ta không muốn lời nghe được biến thành đường trên sổ của cậu.”
“Cháu sẽ ghi là ông nghe kể.” Bảo mở sổ, chừa một dòng để sau đó hỏi thêm.
Ông Lưu đưa hắn nhìn dòng đã chép từ sổ nhận bao, nhắc giữ bản có chữ ký ở nơi khô. Bảo chỉ túi vải của Thanh Nghi. Nàng nói bản của mình đã bọc riêng với giấy nhận lệnh. Ông gật đầu, không dặn thêm.
Bà Từ lên xe cùng đoàn. Trước lúc đi, bà đưa Bảo một miếng bìa nhỏ còn dư, bảo hắn có thể kẹp trang sổ hay bị gấp góc. Hắn nhận, đặt vào giữa hai trang vẽ đường. Khi đoàn khuất sau cổng, hắn còn nhìn theo ống tre một lát; tờ giấy cũ đã giúp chiếc lệnh trở lại tay Thanh Nghi, giờ đang về chỗ của nó.
Bữa trưa, bà chủ quán để dành cho nhóm một nồi cơm nhỏ, rau luộc và bát đậu kho. Bảo xới cơm, chợt nhớ đêm đầu đến trạm, hắn vừa ăn vừa nhìn cửa kho. Hôm nay cửa kho vẫn ở đó, nhưng hắn không cần ngồi đếm người ra vào nữa.
Thanh Nghi đặt chiếc bao có lệnh trên phản bên cạnh, ngay trong tầm mắt. Bảo thấy nàng chạm tay kiểm nút dây trước khi ăn. Nàng nhận ra hắn nhìn, nói:
“Ta vẫn chưa quen nó đã trở lại.”
“Cháu cũng vậy.” Hắn đưa đĩa rau về phía nàng. “Nhưng cơm thì cháu quen rồi.”
Hổ múc đậu cho hắn, dặn chừa phần Dư An. Bảo giữ bát cho anh múc, rồi nhận ra ông đã tự lấy phần của mình. Ô Kê rảo dưới bàn, lần lượt đứng cạnh từng người. Dư An bẻ một ít cơm nguội vào bát riêng; con gà vừa ăn vừa để ý đĩa đậu.
Ăn xong, Hổ kiểm tải. Xám có đủ cỏ đến trạm nghỉ sau rặng tre; đến đó họ sẽ hỏi thêm về đoạn đường phía trước. Dư An xếp thuốc vào túi dễ lấy, còn Bảo kiểm nồi, nắp, lồng gà, sổ và tiền đường. Thanh Nghi giữ giấy trong áo, chiếc lệnh bọc riêng.
Hắn lấy bản chép điểm chín ra xem. Đường nét trên đó không phải bản đồ đầy đủ của các lối qua núi. Mộc vẫn giữ bản đồ gốc ở ngoại viện; những trang Bảo tự ghi chỉ là tên trạm, lời người đi trước và những đoạn hắn từng qua. Muốn đến cây cầu cũ, hắn phải đối các ghi chép ấy với đường thực tế, không thể nhìn một nét rồi đoán chỗ nào còn đi được.
“Cháu nhớ đường về có cây cầu gỗ,” hắn nói. “Nhưng chưa biết cây cầu mọi người kể có phải chỗ ấy không.”
Thanh Nghi hỏi hắn còn nhớ gì. Bảo kể điều mình nhớ về đường nước, rồi dừng ở chỗ không chắc đường hiện giờ còn giống trước hay không. Hắn mở sổ, viết thêm câu hỏi: “Ai vừa đi qua? Cầu còn dùng được không? Nếu không, họ đi lối nào?”
Hổ nhìn trang giấy. “Đến trạm sau rặng tre, ta hỏi bà chủ. Bà biết người qua lại nhiều.”
“Bà ấy cũng có thể không biết đoạn xa,” Dư An nhắc.
“Vậy hỏi tiếp người vừa đi tới.” Bảo đặt bút xuống. “Lần này cháu sẽ ghi lúc họ đi qua.”
Trước khi rời quán, hắn cùng Hổ bê thúng cơm ra cổng cho người mang đi sửa đường. Người ấy cảm ơn, nói họ chưa thể làm xong ngay trong ngày; đoạn nguy hiểm sẽ có người đứng báo cho khách qua. Bảo hỏi có thể dắt la đi không. Ông đáp sáng nay có người dắt một con qua lối trong, nhưng nền còn mềm, tới nơi phải xem lại.
Bảo không coi đó là lời đảm bảo. Hắn ghi vào sổ, kèm buổi sáng và tên người nói. Rồi hắn cất sổ, giúp Hổ đặt lồng Ô Kê lên tải. Con gà kháng nghị bằng cách mổ vào nan tre; Bảo đưa bát nước cho nó uống trước khi buộc cửa.
Thanh Nghi tới chào bà quản kho. Bà hỏi chiếc bao đã cất chắc chưa. Nàng gật đầu, đưa bà xem bản giấy giao đã bọc, rồi xin địa chỉ nhận thư nếu sau này cần hỏi thêm. Bà viết một dòng cho nàng, bảo nếu đổi người giữ kho, bàn thư vẫn chuyển được đến trạm.
Bảo chào người giữ sổ. Ông đang ngồi trên chiếc ghế hai người từng sửa, miếng gỗ chêm vẫn ở dưới chân. Hắn hỏi ghế còn nghiêng không. Ông thử lắc, nói thỉnh thoảng phải chỉnh miếng chêm, nhưng ngồi được.
“Cháu cứ tưởng sửa xong thì nó phải đứng mãi,” Bảo nói.
“Có khi dùng rồi lại lệch. Biết chỗ nào phải chỉnh là được.”
Hắn cúi xuống đẩy miếng gỗ sát vào. Người giữ sổ thử ngồi, rồi đẩy ngược ra một chút vì sát quá lại làm ghế nghiêng bên kia. Hai người nhìn nhau, cùng cười.
Cả nhóm rời trạm khi nắng lên vừa khỏi mái. Bảo đi cạnh Xám, Thanh Nghi ở phía trong đường, Hổ dắt la và Dư An đi sau. Qua khúc rẽ đầu tiên, hắn ngoái lại. Từ đây không nhìn thấy cửa kho, chỉ còn mái che và một góc đường dẫn tới trạm.
Hắn nhớ đoàn Tống Ký năm ấy, nhớ chiếc xe cháy và những người phải chạy qua dốc trong đêm. Hôm nay trên sân có thúng cơm đưa cho người sửa đường, còn một chiếc ghế vừa được kê lại. Những việc ấy không xóa được chuyện cũ, nhưng chúng nằm ở cùng nơi hắn từng sợ nhìn lại.
“Cháu nghĩ gì?” Thanh Nghi hỏi.
“Cháu đang nhớ đường.” Bảo bước thêm một bước. “Và nhớ là lúc về phải hỏi lại, vì đường có thể đổi.”
Phía trước, tiếng người gọi nhau vọng từ chỗ dốc. Hổ dừng Xám để một xe chở ván đi qua. Bảo giữ lồng Ô Kê cho khỏi va vào cành cây, rồi cùng mọi người bước tiếp về phía con đường dẫn xuống thung lũng.