Chương 301: Dấu Đường Dưới Chân Dốc
Đoàn xe chở ván đi qua, để lại một vệt bùn dài trên mặt đường. Lâm Hổ chờ chiếc cuối cùng khuất khỏi khúc ngoặt mới dắt Xám bước tiếp. Tạ Tiểu Bảo đi bên cạnh, một tay giữ lồng Ô Kê khỏi chạm vào cành thấp.
Chỗ dốc phía trước có mấy người đang sửa. Một người đứng trên nền cao, tay cầm cành cây bóc vỏ làm dấu; thấy cả nhóm, ông giơ cành lên bảo dừng. Hai người khác bên dưới đang đưa một tấm ván qua chỗ mép đường bị nước khoét.
“Chờ họ đặt xong rồi hãy đi,” ông nói. “Bên trong còn lối, nhưng hẹp.”
Bảo nhận ra chiếc thúng cơm của bà chủ quán đặt cạnh đống gỗ. Nắp thúng đã mở, một dải vải rơi xuống bùn. Hắn chỉ cho người đứng gần; ông ấy nhặt vải lên, phủi đất rồi buộc lại. Hắn không tự mở thúng, vì cơm đang chờ những người làm đường nghỉ tay.
Thanh Nghi hỏi họ có cần người giúp không. Người cầm cành đáp đang đủ tay để đặt ván; nếu nhóm có la, lát nữa nên tháo những món nhô rộng. Hổ nhìn tải, thấy lồng gà và túi cỏ đều buộc gọn. Chiếc nồi đen nằm giữa, bọc vải kỹ, không thò ra hai bên.
Hai người dưới dốc nâng tấm ván lên. Một đầu ván chống vào nền đá, đầu kia được đặt trên mấy viên đá đã kê. Họ không dùng nó làm cầu cho cả xe ngay; trước mắt tấm ván giúp người sửa có chỗ đứng để đưa thêm đá. Người cầm cành dẫn khách đi phía trong, lần lượt từng người, chờ họ qua mới gọi nhóm tiếp theo.
Xám đặt chân cẩn thận, không phải tháo tải. Qua tới nền rộng, Bảo nhìn lại. Chỗ đường bị khoét hôm trước không biến mất chỉ vì có một tấm ván mới. Một người thợ đang cúi xuống kiểm đá kê, người khác dùng xẻng khơi dòng nước ra khỏi mép đường.
Bảo cảm ơn người cầm cành. Ông chỉ về phía dưới: “Đường tới trạm sau rặng tre vẫn đi được. Nếu gặp người chở hàng ngược lên, hỏi họ đoạn xa hơn. Chúng ta chỉ sửa tới đây.”
Bảo ghi tên ông và buổi vừa hỏi, cạnh dòng hôm trước. Hắn định viết “đường đã sửa”, rồi đổi thành “đang sửa, có lối trong”. Thanh Nghi nhìn thấy, hỏi hắn có cần thêm ngày không. Hắn thêm ngày, bởi trang trước đã có một câu tương tự, mà hai lần hỏi cách nhau mấy hôm.
Đi thêm một quãng, con đường men gần vách đá thấp. Tiếng búa và tiếng gọi từ đội sửa đường nhỏ dần sau lưng. Bảo ngẩng lên nhìn sườn dốc. Một chỗ đất bằng nằm khuất sau bụi cây, đủ rộng cho vài cỗ xe dừng; gần đó có một gốc cây già đã cụt ngọn.
Hắn chậm bước.
“Có chuyện gì?” Dư An hỏi.
“Cháu đang nghĩ chỗ này có thể gần nơi đoàn Tống Ký từng dừng.” Bảo nhìn quanh thêm lần nữa. “Nhưng cháu không chắc là cái cây ấy. Lúc đó trời có khói.”
Hổ dắt Xám tới mép đường rộng hơn rồi dừng. Thanh Nghi đứng cùng Bảo, không giục hắn đi. Trên mặt đất không còn bánh xe cháy hay những kiện hàng bị bỏ lại; chỉ có lá ướt, cỏ và một vệt bánh mới đi qua. Hắn cố nhớ vị trí chiếc xe năm ấy, nhưng càng nhìn những thân cây giống nhau, hình ảnh trong đầu càng khó đặt vào đúng chỗ.
“Cầu ở phía trước nơi đoàn dừng, phải không?” Thanh Nghi hỏi.
“Ừ. Đêm ấy bọn cướp đốt từ chân trụ. Lửa lên trước, rồi cầu sập xuống khe.” Bảo nắm quai túi. “Đoàn phải bỏ những xe không mang đi được, khiêng người bị thương qua lối mỏ.”
Hắn nhớ Tống phu nhân điểm danh, nhớ Hà thúc nhìn theo hướng kẻ ôm hộp chạy vào rừng. Còn cái hộp ấy đi đâu sau đó, hắn không kể thêm. Hôm nay hắn chỉ đang tìm một con đường.
Dư An hỏi họ có muốn nhìn thử phía khe hay cứ tới trạm nghỉ trước. Từ đây trạm không còn quá xa theo lời người sửa đường, nhưng nếu rẽ vào một lối lạ, cả nhóm có thể mất buổi chiều. Bảo muốn tới tận nơi xem cây cầu, song cũng không biết lối nào hiện dẫn được tới khe. Hắn hỏi Hổ và Thanh Nghi; hai người đồng ý trước hết tìm chỗ buộc Xám, hỏi người biết đường rồi hãy quay lại xem nếu cần.
Bảo gật đầu. Hắn vẽ một nét ngắn trong sổ: vách thấp, chỗ đất bằng, gốc cây cụt. Bên cạnh, hắn ghi dấu hỏi. Đó có thể là nơi từng đóng trại, cũng có thể chỉ là một khoảng đất giống trong trí nhớ.
Đi đến trạm nghỉ sau rặng tre, họ gặp bà chủ đang phơi những tấm vải trên dây. Bà nhận ra Xám trước, sau đó mới thấy Bảo. Con la ngửi bó cỏ gần cửa, nhưng lần này Hổ buộc nó cách xa; Bảo nói với bà họ sẽ trả tiền cỏ như lần trước.
“Ta nhớ,” bà đáp. “Lần trước nó còn tìm được chỗ cỏ ta chưa bán.”
Bà có phòng trống cho cả nhóm. Khi nghe hỏi về cây cầu gỗ, bà không chỉ ngay. Bà hỏi họ muốn đi theo tuyến nào, vì trong vùng có nhiều cầu nhỏ. Bảo kể đoạn qua Hắc Nha Pha, vách đá thấp, khe sâu và cây cầu từng bị đốt khi đoàn Tống Ký đi qua. Hắn không biết tên khe.
Bà nghĩ một lúc. “Ta biết một khe có mấy cột gỗ cũ ở gần đường lên dốc. Cầu ở đó lâu rồi không dùng. Nhưng ta chưa xuống tận chân cột từ đầu mùa mưa.”
“Có phải đoàn xe đi đường ấy không?” Hổ hỏi.
“Xe bây giờ thường chọn đường vòng lớn hơn. Có người đi bộ dùng lối qua sườn, nhưng ta không đi cùng họ.” Bà chỉ một vị khách đang ngồi cạnh bếp. “Người ấy vừa từ phía nam tới, có thể hỏi.”
Vị khách là một người bán kim chỉ, đang gói lại tấm vải trải hàng. Nghe Bảo hỏi, ông kể đã đi qua một lối bên sườn tây cách đây ba ngày, đến được phía nam khe. Ông không nhìn thấy cầu từ lối ấy; có đoạn lối mỏ cũ bị đá chắn, người đi bộ phải lách, còn la mang tải chưa chắc qua được.
“Ông đi cùng ai không?” Dư An hỏi.
“Có hai người gánh hàng. Chúng ta thay nhau đưa sọt qua đoạn hẹp.” Ông nhìn Xám. “Không có con vật nào đi với chúng ta.”
Bảo hỏi ông có thể vẽ lối ấy không. Người bán hàng lấy que vạch trên nền đất: từ trạm đi lên một đoạn, đến chỗ hai cây mọc sát nhau thì rẽ, theo sườn tây tới đoạn đá chắn. Ông dừng trước khi vạch tiếp.
“Bên kia có hai lối nhập vào một đường đất. Ta đi lối thấp, không xem lối cao. Hôm ấy trời khô; ta không biết sau mưa đất còn chắc không.”
Bảo chép hình vẽ vào sổ, ghi rõ đó là đường người bán hàng đi ba ngày trước. Hắn không xóa dấu hỏi ở chỗ cây cụt. Một người kể từ trạm tới lối mỏ; hắn vẫn phải xem hai vị trí có khớp với trí nhớ của mình không.
Thanh Nghi hỏi đường vòng lớn mà bà chủ vừa nhắc. Người bán hàng nói đường ấy dành cho xe, vòng xa qua Bạch Tùng Cốc. Ông đã nghe tên nhưng chuyến này không đi, nên không biết cầu trên đường vòng còn tốt không. Bảo nhớ năm ấy Hà thúc từng nói nếu đưa xe vòng qua đó sẽ mất thêm thời gian và cần đủ ngựa. Bây giờ nhóm có Xám, không có xe lớn, nhưng biết tên đường vòng vẫn chưa đủ để chọn.
Hổ tháo tải cho la. Lúc nhấc chiếc nồi xuống, anh nhờ Bảo giữ đầu dây. Bảo thấy mặt dưới lớp vải dính một ít đất khô, phủi sạch rồi đặt nồi trên phản. Ô Kê vừa ra khỏi lồng đã chạy về phía bếp. Bà chủ chặn lại bằng chiếc rổ, bảo nó đợi người ăn xong. Bảo đặt thóc ngoài sân, nhưng nó chỉ mổ một hạt rồi tiếp tục nhìn cửa bếp.
“Lúc nào ngươi cũng tìm đường ngắn nhất đến cơm,” hắn nói.
Con gà không đáp. Nó vòng qua chiếc rổ, bị bà chủ nhẹ nhàng đẩy ra lần nữa.
Sau bữa ăn, Dư An xem chân Bảo. Đường lúc sáng không làm đầu gối căng trở lại, nhưng ông muốn hôm nay dừng tại trạm. Trời đã về chiều; nếu quay lên xem khe, cả nhóm có thể phải trở về trong bóng tối. Thanh Nghi đồng ý. Nàng muốn ngày mai tới tận nơi, bắt đầu từ đường chính, rồi xem lối mỏ người bán hàng vừa vẽ.
Bảo thấy sốt ruột. Cây cầu từng ở gần nơi đoàn Tống Ký đóng trại; họ có thể vừa đi qua mà chưa nhận ra lối rẽ. Nhưng hắn cũng biết câu chuyện không kết thúc bằng việc nhìn thấy một đống gỗ. Nếu cầu đã mất, họ phải tìm cách đưa cả người, Xám, chiếc nồi và lương qua phía bên kia.
Hổ lấy đoạn dây người chở gốm tặng trải ra kiểm. Một đầu dây còn dính bùn khô, anh lau rồi cuộn lại. Bảo hỏi có cần thêm gậy không. Hổ đáp nên kiếm một cây dài để dò nền, nhưng không nên vội nghĩ có dây là đủ đi qua mọi chỗ. Thanh Nghi xem lại bản chép điểm chín và các trang đường của Bảo, đặt chúng cạnh nhau trên bàn.
“Chúng ta chưa có bản đồ đường vòng,” nàng nói. “Ngày mai nhìn được đoạn nào thì ghi đoạn ấy.”
Bảo nhớ tấm bản đồ lão Kỷ từng vẽ và tấm hắn mua ở thương hội. Hắn đã từng đặt chúng cạnh nhau để tính đường; lúc này hai tấm không nằm trên bàn trước mặt. Hắn không biết bản cũ còn chỉ được những gì sau bao nhiêu lần mưa và đổi đường. Hắn ghi vào sổ một câu hỏi về bản đồ, để khi có dịp sẽ tìm lại và đối với những gì tận mắt thấy.
Tối, bà chủ đặt thúng cỏ gần chỗ buộc Xám, lần này đậy nắp kỹ. Hổ trả tiền phần cỏ đã mua; con la cúi ăn, không tìm sang thúng khác. Bảo đứng cạnh, nghe tiếng nước xa dưới dốc. Hắn cố nhớ tiếng cầu sập năm ấy. Trong trí nhớ, âm thanh ấy rất lớn; đêm nay chỉ có nước chảy và tiếng nhai đều đều.
Hắn trở vào phòng, dùng miếng bìa bà Từ cho kẹp trang vừa vẽ. Trên đầu trang, hắn viết: “Ngày mai tìm khe. Chưa biết có cầu mới hay không.” Rồi hắn đặt bút xuống, kéo chiếc lồng gà ra khỏi lối đi để sáng không ai vấp.