Chương 302: Bờ Bên Kia
Sáng hôm sau, bà chủ trạm cho Tạ Tiểu Bảo mượn một cây gậy tre dài hơn người hắn.
“Cậu có thể thử đất trước khi đặt chân,” bà nói. “Nhưng đừng tưởng gậy chạm được đá thì cả người cũng đứng được trên đó.”
Bảo cầm gậy, chọc thử xuống sân. Đầu gậy lún vào đất mềm, để lại một lỗ tròn. Ô Kê lập tức tới mổ cái lỗ. Hắn nhấc gậy đi, con gà vẫn cúi đầu nhìn, như thể dưới ấy có một hạt thóc vừa trốn.
Họ không đưa Xám và toàn bộ hành lý đi khảo sát. Hổ hỏi bà chủ có thể gửi la ở sân đến chiều không; bà đồng ý sau khi hai bên nói rõ tiền cỏ và chỗ buộc. Chiếc nồi đen vẫn bọc vải trong phòng thuê. Thanh Nghi mang nước, một ít lương và giấy bút; Dư An mang túi thuốc. Bảo định để Ô Kê ở trạm, nhưng con gà đã chui ra khỏi lồng, chạy theo tới tận cổng. Cuối cùng Hổ mang lồng nhẹ, còn Bảo đặt ít thóc trong túi riêng.
“Đi nhìn đường mà có cần mang cả gà không?” bà chủ hỏi.
“Nếu để nó lại,” Bảo nhìn về phía bếp, “cháu sợ lúc về phải tìm thêm đường đến nhà người mất cơm.”
Bà đưa Ô Kê một cái nhìn, rồi đóng cửa bếp. “Đi đi. Ta giữ nồi cho cậu.”
Cả nhóm đi ngược lên dốc đến khoảng đất bằng Bảo đã đánh dấu hôm trước. Từ đây, hắn thử đối trí nhớ với vách đá thấp và hướng nước chảy. Sau lùm cây gần mép đường có một vệt đất hẹp, bị cỏ che một phần. Hổ đi trước vài bước, dùng gậy tre gạt cành; vệt ấy dẫn ra một nền đá cao, rồi dừng lại đột ngột.
Phía trước là khe sâu. Nước chảy ở dưới, đục màu đất sau mưa. Bờ bên kia cách một khoảng rộng, ở giữa không có mặt cầu. Hai đầu đường cũ chỉ về phía nhau, nhưng phần nối đã mất. Trên nền gần họ còn một chân cột sẫm màu, mảnh gỗ gãy nằm nghiêng giữa đá và cỏ.
Bảo đứng yên. Hắn không cần tìm ngọn lửa để biết một cây cầu từng ở đây. Song hắn cũng không nói chắc mảnh gỗ dưới chân là phần đã cháy hôm ấy; nhiều thứ có thể được dựng rồi mất đi giữa hai lần hắn tới.
Hắn nhớ tiếng nứt năm xưa, tiếng cầu đổ phía sau khi đoàn Tống Ký đã đi vào lối mỏ. Đêm ấy hắn không nhìn thấy đáy khe. Ban ngày, nước vẫn ở rất xa dưới chân vách.
“Có cầu mới ở đây không?” Thanh Nghi hỏi.
“Ta không thấy,” Hổ đáp. “Nhưng phải xem cả phía trên và phía dưới mới biết có lối nào khác gần đây.”
Anh không bước sát mép. Một mảng đất phía ngoài đã tróc, rễ cây lộ ra. Dư An đề nghị cả nhóm lùi về nền đá, tìm chỗ quan sát trước khi đo. Bảo gật đầu, kéo lồng Ô Kê vào trong. Con gà nhô đầu qua nan, nhìn dòng nước rồi quay sang mổ nút buộc.
Từ nền đá, họ nhìn thấy bên kia có một vệt đường cũ chạy chếch qua bụi cây. Nó rộng hơn lối mòn của người đi bộ, nhưng giữa hai bờ không còn gì để Xám bước qua. Phía hạ lưu, vách khuất sau một mỏm đá; phía thượng lưu, cây cối che mất đoạn khe uốn vào núi.
Bảo hỏi có thể thả dây xuống đo sâu không. Hổ mở cuộn dây, thử tìm một hòn đá vừa tay, nhưng Thanh Nghi ngăn lại. Nàng chỉ khoảng nước không nhìn rõ đáy: nếu đá mắc vào cành hoặc rơi ở chỗ cao hơn mặt nước, chiều dài dây kéo ra sẽ không cho biết độ sâu chính xác. Hơn nữa họ chưa cần biết đáy sâu bao nhiêu để quyết định có nên xuống vách.
“Vậy đo cái gì trước?” Bảo hỏi.
“Đo đường chúng ta có thể đứng và đi,” Dư An nói. “Rồi ghi chỗ không nhìn thấy.”
Hổ dùng một đoạn dây làm thước, đánh nút cách đều theo chiều dài cây gậy. Hai người đo từ chỗ rẽ trên đường chính tới nền đá, tránh đoạn đất sát mép. Bảo đọc số nút, Thanh Nghi ghi. Lượt về hắn đếm khác một đoạn; Hổ bảo có thể dây bị chùng ở chỗ rễ cây. Họ đo lại đoạn ấy, kéo dây vừa thẳng, đặt xuống đất, rồi ghi kết quả gần đúng chứ không làm tròn thành một con số chắc chắn hơn khả năng đo.
Bảo vẽ hai bờ, đánh dấu nền đá và chỗ rẽ. Hắn muốn vẽ chiếc cầu bằng nét đứt, nhưng dừng bút.
“Vẽ ở đâu?” hắn hỏi.
Hổ chỉ hai đầu đường cũ. “Em có thể vẽ vị trí mình thấy hai đầu hướng vào nhau. Ghi rằng ta chưa đo được khoảng giữa.”
Hắn làm theo. Đó không phải bản đồ lão Kỷ, cũng chưa đưa họ qua bờ kia. Nó chỉ giúp họ nhớ từ đường chính tới khe phải rẽ ở đâu và không được dẫn Xám thẳng tới mép đất lở.
Thanh Nghi tìm một chỗ cao hơn để nhìn dọc thượng lưu. Từ đó nàng thấy một dải đá nhô ở mép nước, nhưng đoạn tiếp theo bị thân cây che. Nàng gọi Hổ lên nhìn. Anh nói dải đá ấy có thể là chỗ nghỉ của người đi bộ khi nước thấp, song hôm nay không thấy lối xuống hay lối lên bờ đối diện.
“Nếu chúng ta đến gần hơn?” Bảo hỏi.
“Có thể đi theo đường phía trên để tìm chỗ nhìn,” Hổ đáp. “Không cần xuống vách.”
Họ đi dọc mép rừng, giữ đủ khoảng cách với khe. Sau một quãng ngắn, đất bắt đầu dốc về phía nước. Dư An thử nền bằng gậy, thấy lớp lá che một rãnh mềm. Ông bảo quay lại tìm lối cao hơn. Bảo nhìn dòng nước qua kẽ cây, tiếc vì chỉ cần thêm vài bước là có thể thấy rõ dải đá, nhưng hắn nhớ chân la, chiếc nồi và cả những người chưa xuống đây. Một chỗ hắn lách tới được chưa chắc là đường cho cả nhóm.
Trên đường trở lại nền đá, Ô Kê bỗng đập cánh trong lồng. Một con chim nhỏ từ bụi cây bay vọt ra. Bảo giật mình, đánh rơi bút; cây bút lăn xuống chỗ lá ẩm. Hắn cúi nhặt, phát hiện bên dưới có một mảnh dây thừng cũ mắc quanh rễ cây. Một đầu dây đứt, đầu kia nằm sâu trong bụi.
Hổ xem rồi nói sợi dây đã sờn và mục ở phần lộ ra. Nó có thể từng dùng để buộc hàng hoặc đánh dấu lối, nhưng không ai biết từ bao giờ. Bảo đặt lại, không kéo mạnh. Hắn ghi vị trí vào sổ, kèm lời “dây cũ, chưa biết dùng làm gì”.
Ăn lương khô trên nền đá, Thanh Nghi nhìn sang bờ đối diện. “Nếu dùng lối mỏ, chúng ta sẽ ra phía nam khe, không cần sang đúng chỗ này.”
Bảo nhai miếng bánh, nhớ người bán kim chỉ đã vẽ hai cây mọc sát nhau. “Đoàn Tống Ký cũng đi lối ấy. Nhưng người bán hàng nói có đá chắn.”
“Ngày mai có thể xem đoạn đầu,” Hổ nói. “Hôm nay ta đã thấy chỗ cầu cũ. Muốn biết lối mỏ còn đi được không, cần tới tận chỗ đá, không chỉ nhìn từ đây.”
Dư An hỏi có cần đưa Xám theo ngay không. Hổ đề nghị lần đầu đi nhẹ: nếu thấy có chỗ không thể đưa la qua, họ còn quay lại tính. Thanh Nghi đồng ý, nhưng nhắc phải xem cả lối sau chỗ đá; một khoảng đi được không bảo đảm cả tuyến đều thông.
Bảo nhìn phần bánh trên tay. Hắn bẻ một mẩu cho Ô Kê, đặt trong lồng. Con gà mổ xong, lại nhìn mặt nước. Hắn không biết nó đang nhìn nước hay nhìn bóng mình trên nan tre.
Khi nắng chuyển qua vách đối diện, họ trở về đường chính. Đến chỗ rẽ, Bảo cắm một cành khô vào bên trong bụi, buộc sợi vải nhỏ lên đầu để lúc quay lại dễ nhận. Hắn không buộc dấu ngay sát đường cho khách tưởng đó là lối qua an toàn. Trước khi đi, hắn vẽ dấu cành cây vào sổ và ghi rõ nơi đặt.
Ở trạm, bà chủ hỏi đã thấy cầu chưa. Bảo kể khe, hai đầu đường cũ và chân cột gỗ. Bà nghe rồi nói đúng chỗ bà biết, nhưng bà cũng không rõ cột ấy là phần của cầu đã cháy hay được dựng sau đó. Hắn gật đầu. Hai người chỉ xác nhận họ đang nói về cùng một khe, không xác nhận được tuổi của mảnh gỗ.
Hổ dẫn Xám ra uống nước. Con la đẩy mõm vào tay Bảo, như trách họ đã đi không đem nó theo. Hắn nhặt bó cỏ đã trả tiền, đưa cho nó ăn từng nắm. Ô Kê xuống khỏi lồng, tranh một cọng, bị con la hắt hơi làm bay cả cọng cỏ lẫn ít bụi.
Tối, Thanh Nghi đặt tờ vẽ và bản chép điểm chín cạnh nhau. Trên một tờ có nét liên quan đến Lạc Kê, trên tờ kia có khe vừa nhìn thấy. Giữa hai tờ còn cả một quãng đường. Họ không ghép hai nét chỉ vì chúng cùng hướng xuống núi.
Bảo mở sổ đến trang mới, viết: “Khe cũ: không thấy cầu tại chỗ hai đầu đường. Chưa xem hết thượng và hạ lưu.” Bên dưới, hắn viết thêm: “Lối mỏ: ngày mai xem đoạn đá chắn.”
Hắn nhìn hai câu ấy, rồi gấp sổ. Ngoài sân, bà chủ gọi người vào ăn cơm; trong lồng, Ô Kê nghe tiếng bát đũa đã kêu trước. Bảo nhấc lồng sang một bên, nhường lối cho Dư An, rồi theo mùi cơm vào bếp.