Chương 304: Người Gánh Hàng Trở Lại
Sáng hôm sau, bà chủ trạm gọi Tạ Tiểu Bảo ra sân khi hắn còn đang buộc dây giày.
Một người đàn ông đứng cạnh giếng, trên vai có vết hằn đỏ của đòn gánh. Bà giới thiệu ông tên Thạch, là một trong hai người đi cùng người bán kim chỉ qua lối mỏ. Cháu bà đã mang câu hỏi sang tối qua; sáng nay ông tới trạm lấy muối, tiện kể lại đoạn đường.
Bảo vội lấy sổ. Ông Thạch nhìn cuốn sổ rồi nhìn lồng Ô Kê đặt dưới hiên.
“Cậu là người hỏi có la đi qua được không?”
“Vâng. Nó tên Xám, đang ăn cỏ sau nhà.”
“Ta chưa thấy la qua chỗ ấy từ lúc đá xuống. Ba chúng ta gánh sọt, đến tảng đá thì tháo hàng, lần lượt đưa qua phía trong.”
Thanh Nghi hỏi về thân cây đổ. Ông nói lúc đoàn ông đi, thân cây đã nằm ngang lối. Họ cúi qua dưới một đầu cây, nơi có khoảng trống cao hơn; phía ngoài dốc quá, không ai vòng xuống. Ông cũng không đụng vào nhánh chống ở sườn, vì không biết nó có giữ thân cây hay không.
“Qua cây rồi, đường thế nào?” Hổ hỏi.
“Có hai lối. Chúng ta đi lối thấp, men theo sườn tới một khoảnh đất bằng rồi nhập vào đường đất phía nam. Một đoạn có nước chảy ngang, hôm ấy không sâu.” Ông ngừng lại. “Đó là hôm trời khô. Hôm qua mưa, ta chưa trở lại.”
Bảo chỉ hình vẽ tảng đá và thân cây trong sổ. Ông Thạch nhận ra, nhưng sửa chỗ hai lối nhập: chúng không gặp ngay sau thân cây như Bảo tưởng từ hình người bán hàng vẽ. Phải đi thêm một quãng, lối thấp mới gặp đường đất. Ông không nhớ chính xác bao nhiêu bước, chỉ nhớ đủ xa để họ nghỉ một lần ở khoảnh bằng.
Bảo chép lại, giữ cả nét cũ và ghi “sửa theo lời ông Thạch” bên cạnh. Ông nhìn hắn viết, cười: “Cậu để cả nét sai à?”
“Để cháu biết vì sao phải sửa.”
Bà chủ trạm đặt bát cháo trước mặt ông, bảo ông ăn rồi hãy nói tiếp. Ông không chịu nhận không; bà tính tiền như khách khác. Bảo ngồi đối diện, ăn bát của mình. Ô Kê vòng dưới bàn, nhắm vào hạt đậu rơi. Ông Thạch bẻ cho nó một mẩu bánh, nhưng con gà bỏ bánh, mổ hạt đậu trước.
“Khách của cậu biết chọn đấy.”
“Nó chọn hết,” Bảo nói. “Chỉ là chọn cái gần trước.”
Hổ hỏi ông có thể dẫn nhóm đến đoạn sau thân cây để họ xem đường hay không. Ông Thạch tính việc trong ngày: phải mang muối về, nhưng buổi chiều có thể đi một quãng, tối vẫn kịp trở lại nếu trời không mưa. Ông đề nghị nhóm trả công cho thời gian dẫn đường và tự mang nước, không bắt ông chịu trách nhiệm về Xám khi chưa thấy lối.
Hổ hỏi giá. Sau khi bàn, anh và Thanh Nghi đồng ý trả một phần khi ông đưa họ đến chỗ hai lối, phần còn lại khi trở về trạm. Nếu đường không qua được và phải quay sớm, họ sẽ tính theo quãng đã đi. Dư An hỏi ông có cần mang thêm người không; ông nói có thể nhờ người nhà đi cùng, nhưng sáng nay phải hỏi trước.
Bảo muốn chiều nay đưa Xám. Hổ lắc đầu. “Ta chưa biết làm thế nào qua tảng đá, cũng chưa thấy đoạn sau cây. Đi xem trước một lần.”
“Nhưng chúng ta đã xem một lần rồi.”
“Mới xem đến cây.” Hổ chỉ khoảng trống trong sổ. “Nếu hôm nay biết đoạn sau, lần sau mang đồ sẽ không phải quay vì một chỗ không ai nhìn.”
Bảo biết anh nói đúng, nhưng vẫn thấy tiếc một buổi sáng. Hắn đi kiểm Xám, lấy bàn tay đo ngang bộ yên và phần hông la. Hổ thấy vậy, lấy dây đo hai chỗ: ngang hông và ngang tải khi buộc gọn. Anh ghi riêng hai độ rộng, thêm rằng hình dáng la không phải một khối thẳng; chỗ đặt chân và chỗ quay đầu cũng cần tính.
“Em muốn tảng đá tự nhường ra bao nhiêu?” anh hỏi.
Bảo nhìn các nút dây. “Vừa đủ.”
“Vừa đủ cho bụng hay cho cả chân?”
Bảo suy nghĩ, thêm một khoảng trống bên hình con la trong sổ. Hắn vẽ nó có bốn chân, Ô Kê ngồi trên tải. Con gà trong hình to gần bằng nửa con la. Hổ nhìn rồi hỏi họ định mang bao nhiêu thóc. Bảo sửa nhỏ con gà, nhưng vẫn để cái mỏ lớn.
Đầu chiều, ông Thạch trở lại cùng con gái tên Mai. Cô mang một cuộn dây và con dao nhỏ để cắt cỏ; ông giải thích cô từng đi gánh hàng với mình trên tuyến khác, hôm nay đi cùng giúp nhìn đường. Cả nhóm thống nhất nếu có việc ngoài phần đã bàn, như dọn đường hay đưa hàng, họ sẽ thỏa thuận riêng, không tự hiểu đã bao gồm trong tiền dẫn.
Đến hai cây mọc sát nhau, ông Thạch chỉ một dấu dao cũ trên thân lớn. Bảo nhìn gần, thấy vỏ cây đã liền một phần quanh vết khắc. Ông nói dấu này giúp mình nhận chỗ rẽ, nhưng không biết ai khắc đầu tiên. Ông đi trước đến rãnh nước; dòng hôm nay nhỏ hơn khi nhóm Bảo đo hôm qua, còn số cụ thể cần đo lại.
Bảo đặt bát ở chỗ cũ. Hắn giữ cùng cách đếm, thấy nước lên vạch chậm hơn. Mai hỏi hắn có dùng bát ấy uống không. Dư An đưa khăn lau, chỉ vạch than đã chuyển ra mặt ngoài. Bảo giải thích đây chỉ là cách so tại một chỗ, không nói được cả dòng khe. Mai bảo cha cô thường cắm que ở mép nước để hôm sau xem nước lên hay xuống; cô chỉ Bảo cách đánh dấu vị trí que để không cắm chỗ khác.
Hắn hỏi có thể để một que ở đây không. Ông Thạch nói rãnh này người trong xóm dùng nước tưới ở phía dưới; nên đặt que sát mép, đừng chắn dòng. Bảo tìm một cành nhỏ, cắm nơi nền đất không bị người qua giẫm. Hắn ghi vị trí, mức nước hiện tại và ngày. Que không phải thước đo hoàn hảo, nhưng có thể cho họ một dấu để so khi quay lại.
Đến tảng đá, ông Thạch dừng xa như Hổ hôm trước. Ông chỉ khe sát vách: “Chúng ta đưa sọt không qua đó, rồi chuyển từng gói hàng. Không ai đẩy những hòn nhỏ dưới chân tảng.”
Mai nhìn khoảng trống, hỏi nhóm có muốn đo lại chiều rộng ở ba độ cao không. Hổ dùng dây: sát nền, ngang hông người và cao hơn một chút. Khe không đều, phần gần đáy hẹp vì một hòn nhỏ nhô ra. Anh không lấy hòn ấy đi. Thanh Nghi so số đo với dây đo Xám, thấy có chỗ ngay cả khi tháo tải vẫn quá sát, chưa kể chân la cần mặt đất đủ rộng.
“Vậy lối này không dùng cho Xám hôm nay,” nàng nói.
Ông Thạch nhìn phía ngoài tảng đá. Có một vệt đất cũ vòng qua bụi, nhưng sườn dốc và có chỗ bị nước khoét. Ông chưa từng đưa hàng theo đó. Mai bước lên nền cao cách xa tảng đá, nhìn xuống rồi lắc đầu: “Từ đây không thấy đầu bên kia của vệt ấy.”
Hổ đề nghị người đi bộ qua khe trước, xem đoạn sau thân cây theo đúng lời dẫn; Xám vẫn ở trạm. Họ để lồng Ô Kê và phần đồ không cần mang ở một nền đá phẳng. Bảo nhờ Dư An đứng lại cùng lồng vì ông muốn tránh xoay đầu gối ở khe hẹp. Ông đồng ý và hẹn nếu trời chuyển mưa sẽ gọi họ quay về.
Hổ, Thanh Nghi, Bảo, ông Thạch và Mai lần lượt lách qua. Tới thân cây, ông Thạch chỉ đúng khoảng trống dưới đầu cây. Hôm nay một cành nhỏ đè xuống thấp hơn, nhưng không chặn hết lối. Ông không cắt; mọi người cúi qua từng người, tránh chạm vào thân lớn. Bảo đặt tay xuống nền, chui xong mới đứng lên, đầu gối dính đất.
Phía sau, con đường hiện rõ hơn hôm qua. Một lối cao rẽ lên sườn, bị cây non che; lối thấp men theo hàng đá tới một khoảnh đất bằng có gốc cây lớn. Từ đó nhìn thấy một dải đường đất ở xa hơn, nhưng còn một đoạn rừng giữa hai nơi. Ông Thạch chỉ lối thấp là lối mình đã đi, rồi tự đi trước vài bước để xem nền.
Ở rãnh nước nhỏ giữa lối, Mai đặt gậy chặn từ trên cao xuống, thử độ chắc của đất hai bên. Nước chảy qua những viên sỏi, bề mặt chỗ đặt chân trơn. Cô không nhận đó là cùng rãnh mà Bảo đong trước tảng đá; hai rãnh nằm ở hai vị trí. Họ ghi riêng, tránh nhầm khi nói về mực nước.
Bảo đứng trên khoảnh bằng, nhìn về dải đường xa. Hắn từng nghĩ chỉ cần qua tảng đá là sẽ gặp ngay đường đất. Giữa hai nơi vẫn còn một đoạn chưa xem. Hắn hỏi ông Thạch hôm trước có nghỉ ở đây không. Ông chỉ gốc cây: “Chúng ta đặt sọt ở đó, rồi mới đi tiếp.”
Hổ hỏi còn đủ thời gian tới đường đất và trở lại trước tối không. Ông Thạch nhìn nắng qua tán lá, nói nếu đi nhanh có thể tới, nhưng nhóm còn Dư An chờ bên kia và chưa hẹn giờ muộn hơn. Mai đồng ý quay về; cô đánh dấu vào sổ của Bảo hướng lối thấp đã thấy, không vẽ tiếp phần chưa cùng đi hôm nay.
Bảo thấy tiếc, nhưng khi chui lại dưới thân cây, hắn đã hiểu vì sao Hổ không đưa Xám theo. Một con la không thể cúi như hắn, còn tảng đá vẫn chiếm phần lớn đường. Họ cần một lối khác hoặc người có thể giúp đánh giá cách dọn; không ai tự hứa ngày mai sẽ làm xong.
Dư An nghe họ báo rồi đưa nước. Ô Kê vẫn trong lồng, chỉ làm đổ nửa bát thóc. Bảo gom phần sạch vào giữa, không lấy những hạt đã dính đất. Ông Thạch nhìn, hỏi hắn có định đưa gà qua lối mỏ không.
“Có. Nhưng nó được ở trong lồng.”
“Còn cái nồi?”
“Cái nồi cũng phải qua.”
Ông Thạch nhìn cuộn dây của Mai, nói nếu cần người địa phương xem chỗ đá, ông có thể hỏi một người từng làm đường. Việc ấy phải hỏi công và giờ riêng. Hổ cảm ơn, nhờ ông hỏi trước xem người ấy có rảnh và có đồng ý đến nhìn hay không.
Họ trở về trạm lúc trời còn sáng. Nhóm trả đủ số tiền đã bàn cho ông Thạch; ông chia phần cho Mai trước mặt mọi người. Hắn muốn mời hai người ở lại ăn cơm, bà chủ nói đã nấu đủ nếu khách đồng ý. Ông Thạch nhận lời, còn Mai phải mang muối về nên xin phép đi trước.
Tối, Bảo đặt hai sợi dây đo cạnh hình con la trong sổ. Một sợi là chiều ngang Xám, sợi kia là khoảng hẹp sát nền đá. Chúng không bằng nhau. Hắn không cần vẽ dấu hỏi ở ngay chỗ ấy nữa: lối sát vách hiện tại không đủ chỗ như họ đã đo. Nhưng sau khoảnh đất bằng vẫn còn một đoạn đường chưa xem, và phía ngoài tảng đá còn một vệt chưa biết dẫn tới đâu.
Ô Kê nhảy lên phản, giẫm vào mép giấy. Bảo nhấc chân nó xuống, lấy miếng bìa bà Từ tặng chặn trang sổ. Ngoài sân, Xám khịt mũi trong lúc ăn cỏ. Hắn nhìn con gà, rồi nhìn con la qua cửa sổ: một con chui được vào bếp, một con chưa thể qua khe đá. Cả hai đều phải đợi hắn tìm tiếp đường.