Chương 306: Chỗ Nước Rẽ
Ông Tấn trở lại trạm khi nồi cháo sáng vừa bắc xuống bếp.
Ông đi cùng một người đàn bà vai rộng, tay cầm cây sào có những vạch khắc cách đều. Bà tên Vân, làm cùng tổ sửa đường ở dốc. Bà không mặc áo mới; ống quần còn dính đất khô, một bên dép được buộc lại bằng dây gai.
Tạ Tiểu Bảo nhìn cây sào. “Bà dùng nó đo đường ạ?”
“Đo những thứ cần đo.” Bà dựng sào sát cột hiên, so vạch cuối với chiều cao hắn. “Cậu đang cao hơn lần gió thổi cái lá này xuống.”
Bảo ngẩng lên. Trên đầu sào mắc một chiếc lá vàng. Hắn không biết trả lời thế nào, còn Lâm Hổ thì bật cười.
Ông Tấn đã kể cho bà Vân về tảng đá và vệt đất phía ngoài. Bà hỏi lại những người trong nhóm: họ muốn đi tới đâu, có thể chờ bao lâu và có đủ tiền thuê việc lớn không. Thanh Nghi nói mục tiêu trước mắt là đưa cả nhóm cùng Xám qua đoạn lối mỏ, nhưng họ chưa biết phần đường sau khoảnh đất bằng có còn dùng được.
Bà Vân nhìn cuốn sổ Bảo mở trên bàn. Những đoạn đã đi được vẽ bằng nét liền; phần chỉ mới nhìn thấy bằng nét mảnh; rãnh bị khoét còn để trống. Bà không nhận làm đường qua chỉ bằng hình ấy. Bà đồng ý đi xem, cùng ông Tấn tính xem nước đến từ đâu và có việc gì dân xóm cũng cần làm. Buổi xem đường được trả công như hai bên đã nói; việc sửa sẽ bàn sau.
Trước khi đi, ông Thạch ghé trạm gửi lời. Ông không rảnh cả ngày vì phải đưa hàng xuống xóm, nhưng đã hỏi mấy nhà gánh hàng: họ cũng muốn lối được sửa nếu không phá chỗ đang đi. Một người có thể mang cuốc đến sau bữa trưa. Bà Vân bảo ông nhờ họ đừng tự lấp rãnh trước khi xem hướng nước.
Bảo đi cùng đoàn lên dốc. Xám và chiếc nồi ở lại trạm; Ô Kê lần này được bà chủ cho ở trong sân sau khi Bảo buộc lồng chắc, trả đủ thóc và nhờ bà nhìn giúp. Trước lúc đi, hắn đặt bát nước vào góc lồng. Con gà nhảy lên mép bát, làm nước nghiêng về một phía. Hắn chèn một viên đá dưới chân bát như ở quán trước, rồi mới chịu rời sân.
Tới rãnh đầu lối mỏ, Bảo chỉ vạch than trên đá. Nước hôm nay thấp hơn vạch, nhưng than đã nhòe một mép. Bà Vân dùng đầu sào so khoảng từ vạch tới mặt nước, bảo đó chỉ là mức tại chỗ này vào lúc này; nếu họ đổi vị trí đặt sào, con số sẽ khác. Hắn ghi ngày và vẽ hướng nhìn để hôm sau biết đứng ở đâu.
Qua tảng đá, họ không lách vào khe trong ngay. Bà Vân xem vệt ngoài, bậc đá và chỗ nước khoét. Bà ngồi xuống nền cao, dùng một nhánh cây chỉ hướng vệt ướt. Nước từ sườn trên chảy qua lá mục, dồn vào rãnh rồi xói vào mép lối. Xa hơn một chút có một lạch cũ nông, hướng xuống chỗ đất thấp không nằm trên đường đi.
Ông Tấn hỏi có thể khơi lạch cũ để nước bớt đi vào mặt đường không. Bà Vân nói có thể thử sau khi xem lạch dẫn tới đâu và có chảy vào ruộng của ai không. Bà gọi Hổ đứng ở điểm cao, nhờ anh chỉ khi nào nhìn thấy đầu lạch. Thanh Nghi và Bảo đi theo phía trên, không bước xuống rãnh mềm.
Đầu lạch nằm sau một bụi cây thấp. Họ đi được tới một bờ đất cũ, thấy nước rỉ xuống một vùng nhiều cỏ. Phía dưới còn một rãnh nữa khuất sau cây. Ông Thạch từng nói người trong xóm dùng nước để tưới; bà Vân không muốn đổi dòng khi chưa hỏi những nhà ấy.
“Vậy hôm nay chẳng làm gì được?” Bảo hỏi.
“Làm được.” Bà chỉ chỗ lá mục bít cửa lạch. “Trước hết hỏi người dùng nước, rồi dọn lá ở chỗ đã có đường nước. Chúng ta không cần đào một con đường mới cho nước ngay.”
Bảo nhìn mớ lá. Hắn có thể hất đi trong vài cái cuốc, nhưng nếu dưới đó là chỗ giữ nước cho ruộng, việc hất đi có thể làm người khác thiếu nước. Hắn hỏi bà biết nhà nào ở dưới không. Bà biết hai nhà; ông Tấn nhận sang hỏi vì ông đi nhanh hơn, hẹn trở lại trước trưa.
Trong lúc chờ, bà Vân cùng Hổ xem bậc đá và gốc cây phía sau bụi gai. Bà dùng sào đo khoảng rộng ở ba điểm, Thanh Nghi ghi. Điểm hẹp nhất còn thiếu so với chiều ngang Xám khi không tải; sát mép ngoài là đất rời. Bà không cho rằng chỉ cần đắp đất cao lên là đủ. Muốn mở một lối rộng, họ cần nền chịu được chân la và một chỗ quay lại nếu nó không chịu bước.
“Có thể dẫn Xám tới đầu đường để xem nó phản ứng không?” Hổ hỏi.
“Đầu nào?” Bà Vân hỏi lại. “Nếu cậu muốn đưa nó tới chỗ có thể quay đầu, được. Nhưng đừng dắt vào vệt hẹp cho tới khi người làm đường đã kiểm xong.”
Hổ dùng dây và hai cành nhỏ đánh dấu một khoảng bằng ở phía gần. Từ đó tới rãnh còn một quãng; anh thử đi như đang dắt la quay đầu, phát hiện một gốc cây vướng dây cương tưởng tượng. Anh đổi điểm đứng, thấy khoảng quay rộng hơn. Bảo đi sau, bắt chước làm con la, nhưng lúc Hổ kéo dây, hắn bất ngờ đứng lại.
“Vì sao?” Hổ hỏi.
“Xám không thích chỗ ấy.”
“Em biết à?”
“Không. Cho nên phải tính cả lúc nó đứng lại.”
Bà Vân gật đầu. “Cậu thử làm la còn biết nói. Con thật không báo trước bằng lời.”
Đến gần trưa, ông Tấn trở lại cùng một người trong xóm. Người ấy trông một mảnh ruộng ở phía dưới, nói lạch cũ dẫn nước qua bờ ruộng rồi vào mương nhỏ; gần đây lá và đất đã làm nước tràn lên đường. Ông đồng ý cho dọn lá, khơi lại phần cửa lạch, nhưng xin giữ nguyên đoạn bờ gần ruộng cho tới khi ông gọi người nhà cùng xem.
Bà Vân nhờ ông dẫn xuống chỗ nước ra. Ông đi trước, chỉ ranh mương và nơi có thể đặt đất vét lên mà không lấp đường nước khác. Sau khi xem, bà nói chiều nay có thể dọn cửa lạch bằng tay và cuốc nhỏ, chỉ tới đoạn đã thống nhất. Việc đắp nền qua rãnh phải đợi nước đi theo lạch và xem đất ổn định ra sao.
Người trong xóm nói nếu đường bớt nước thì họ cũng đỡ phải đưa sọt qua bùn. Ông sẽ góp công một buổi, nhưng không có tiền thuê thợ. Thanh Nghi và Hổ bàn với bà Vân: nhóm có thể trả phần công còn thiếu, còn dân xóm cùng làm phần họ cần. Bà chủ trạm sau đó được nhắn tin để biết họ sẽ về muộn hơn thường lệ.
Bảo giúp vận chuyển lá mục lên chỗ đã chỉ. Hắn dùng một chiếc sọt nhỏ, không nhấc cái sọt đầy của Hổ. Hai chuyến đầu hắn đi nhanh, tới chuyến thứ ba Dư An gọi lại xem chân. Đầu gối hơi căng, ông bảo hắn đổi sang nhặt cành khô ở nền bằng một lúc. Hắn định phản đối, nhưng cành chất đống đủ cao để làm thật; hắn ngồi nhặt, buộc từng bó nhỏ cho người trong xóm mang về làm củi.
Nước bắt đầu chảy qua cửa lạch cũ sau khi lá được dọn. Nó không lập tức bỏ rãnh bị khoét; hai dòng cùng chảy, dòng mới còn yếu. Bảo định nói họ đã mở được đường, bà Vân gọi hắn tới nhìn chỗ lá còn mắc ở khúc cong. Hai người dùng cành gạt, nước đi thêm được một quãng rồi dừng trong hõm đất.
“Chỗ này cần mở tiếp?” hắn hỏi.
“Có thể. Nhưng chỗ ấy gần bờ ruộng, ta đã hẹn chờ người nhà họ.”
Bảo nhìn nước đọng, sau đó đặt cành xuống. Công việc không kết thúc ngay khi dòng đầu tiên chuyển hướng. Một lúc sau, người nhà tới, cùng xem hõm nước. Họ chỉ chỗ mương cũ bị bùn che và đồng ý cho vét một đoạn ngắn. Ông Tấn cùng người trong xóm đào, Hổ đứng xa nhận đất bằng sọt; Thanh Nghi và Bảo đổ đất ở nơi đã chọn, không sát bờ mương.
Khi đoạn mương thông, nước trong hõm bắt đầu hạ. Bà Vân dùng cây sào đặt ngang qua hai bên, đánh dấu mức nước trên một hòn đá cố định. Bảo giúp ghi giờ theo mặt trời và lời ước lượng của bà. Họ không có đồng hồ, nhưng có thể so lại sau một lúc. Đến khi nghỉ ăn bánh, mức nước đã thấp hơn vạch một chút; dòng ở rãnh qua đường vẫn còn, chỉ nhỏ hơn trước.
Hổ bẻ bánh cho mỗi người. Bảo nhìn bàn tay dính bùn, tới bình nước rửa trước khi nhận. Dư An thấy, không cần nhắc. Ông Tấn ăn xong, chỉ phía tảng đá: “Hôm nay chưa động đến nó. Mai xem nước rồi mới tính nền.”
“Còn thân cây?” Thanh Nghi hỏi.
“Ta đã nhờ người có cưa tới nhìn gốc. Nếu nó đang tựa vào sườn, cắt sai chỗ có thể làm nó lăn. Chưa có người ấy thì cứ để nguyên.”
Bảo nghe, nhưng lần này không thấy cả ngày chỉ toàn lời hẹn. Trước mặt hắn, lạch cũ đã chảy, lá mục được mang khỏi cửa nước, và người có ruộng biết nước sẽ đi về đâu. Đường cho Xám vẫn thiếu một đoạn, nhưng họ đã bắt đầu ở chỗ nước rẽ.
Chiều, nhóm trả công cho bà Vân và ông Tấn theo phần việc đã bàn. Người trong xóm từ chối tiền công của nhóm cho buổi mình góp; Thanh Nghi hỏi lại, ông nói nhà ông cũng cần mương thông. Nàng cảm ơn và góp thêm ít lương vào bữa chung mà bà chủ trạm gửi lên. Không ai nhận thay lời hứa sẽ hoàn thành cả con đường.
Trở về, Bảo chạy tới lồng Ô Kê. Bát nước vẫn đứng vững, nhưng thóc đã hết. Bà chủ trạm nói con gà kêu lúc ngửi thấy cơm, sau đó im khi được đặt thêm một nắm cỏ khô để bới. Hắn trả tiền phần thóc bà đã cho thêm, rồi mở cửa lồng. Ô Kê bước ra, lắc mình và chạy thẳng tới chân hắn.
“Ngươi đợi được cả ngày.” Hắn bế nó lên. “Đường nước cũng đợi, nhưng không đứng yên như ngươi.”
Con gà mổ vào cổ áo hắn. Hổ bảo có lẽ nó muốn nhắc rằng mình chưa từng hứa đứng yên.
Đêm, Bảo ghi vào sổ hướng lạch cũ, vị trí vạch nước và những người đã cùng xem. Hắn vẽ nước bằng mũi tên nhỏ, chừa đoạn mương phía dưới cho lời người trong xóm. Trên trang đường cho Xám, rãnh bị khoét vẫn còn; cạnh đó hắn thêm: “Ngày mai xem lại sau khi khơi nước.”
Hắn đặt bút xuống, nghe nước mưa còn nhỏ từ mái trạm vào chiếc chum. Mỗi giọt rơi một tiếng. Hắn không cần đếm hết; sáng mai họ sẽ lên nhìn dòng nước ở chỗ mình vừa mở.