Chương 315: Tờ Đường Trong Phong Thư
Sáng hôm sau, người giữ thư gọi Tạ Tiểu Bảo trước khi hắn kịp ăn hết bát cháo.
Một phong giấy dày hơn thư thường được chuyển qua trạm núi, ngoài ghi tên hắn. Bảo nhận ra nét chữ Hứa Đồng. Hắn bê cả bát cháo tới bàn, rồi nhìn phong thư, không biết nên cầm thứ nào trước.
“Đặt bát xuống,” người giữ thư nói. “Giấy không chạy đâu.”
Ô Kê đang ở dưới chân bàn. Bảo đặt bát lên cao, mở phong. Bên trong là một lá thư và hai tờ giấy gấp riêng. Hứa Đồng viết đã tìm trong số đồ Bảo để lại ở ngoại viện, nhờ người giữ phòng cho xem đúng chỗ hắn từng cất. Có hai tấm giấy vẽ đường: một tấm nét thô, trên mép có chữ Bảo từng ghi tên lão Kỷ; tấm còn lại có nhiều tên trấn và khoảng cách hơn.
Hứa Đồng không gửi hai tấm gốc. Anh nhờ người biết chép vẽ lại những phần còn nhìn rõ, giữ nguyên tên và nét trên giấy; chỗ rách hoặc không đọc được được để trống. Hai bản chép theo thư tới đây, còn hai tấm cũ vẫn được cất tại ngoại viện. Anh nhắc Bảo nếu muốn lấy bản gốc thì nói rõ cách nhận.
Bảo mở tờ thứ nhất. Nét vẽ thô, đường uốn theo những dấu núi đơn giản. Ở một góc, người chép đã ghi “mép cũ thiếu”, không nối phần đứt bằng trí nhớ. Tờ thứ hai có nhiều địa danh hơn; có những chữ Bảo nhận ra từ chuyến đi tới Lạc Sơn. Hắn đặt hai tờ cạnh nhau, giống như lần từng đặt hai bản đồ trên giường trước khi nhận việc ở Ủy Thác Đường.
Hổ tới, thấy bát cháo chưa ăn xong liền giữ hộ cho Ô Kê khỏi mổ vào mép bàn. Thanh Nghi đọc lá thư, hỏi Bảo có chắc tấm nét thô là bản lão Kỷ vẽ không.
“Cháu đã ghi tên lão trên mép tấm của mình. Hứa Đồng thấy chữ ấy và nhờ chép lại.” Bảo chỉ dòng nhỏ ngoài hình. “Nhưng cháu phải nhìn kỹ mới biết nét nào còn nhớ.”
Dư An ngồi xuống cạnh họ. Ông nhắc có thể dùng bản chép để đối hướng, còn những gì đã đổi sau thời gian dài thì phải nhìn đường hiện tại. Bảo gật đầu. Hắn tìm Hắc Nha Pha trên tờ nhiều địa danh hơn, rồi tìm lối gần khe trên bản nét thô. Hai tờ không cùng tỷ lệ; một nét ngắn trên tờ này không thể đặt thẳng lên nét dài của tờ kia.
“Lão Kỷ vẽ nhanh,” hắn nói. “Tấm mua ở thương hội có thêm trấn và khoảng cách. Ngày ấy cháu chỉ thấy tấm nào mua mất tiền.”
“Còn hôm nay?” Hổ hỏi.
“Hôm nay cả hai đều phải hỏi thêm.”
Thanh Nghi lấy tờ đường nhóm mới vẽ: chỗ cầu cũ, lối mỏ, tảng đá chắn và khoảnh bằng phía nam. Nàng không đặt chúng trùng lên bản cũ. Nàng tìm các tên chắc chắn trước, rồi đánh dấu từng chỗ đã thấy bằng một mảnh giấy rời. Bảo chỉ một nét vòng trên bản lão Kỷ mà hắn nhớ từng nhìn; nó có thể biểu thị đường tránh một đoạn dốc, nhưng bản chép không có chú thích đủ rõ để xác định đó là lối mỏ.
“Chúng ta mang theo để so lúc gặp ngã đường,” nàng nói. “Chỗ nào không chắc thì không dựa vào một nét.”
Bảo muốn mở cả hai tờ ra giữa sân, nhưng gió thổi qua hiên làm góc giấy bay lên. Hắn kẹp chúng giữa hai tấm bìa, buộc dây và để vào túi áo. Cháo trong bát đã nguội. Ô Kê nhảy lên ghế, đưa mỏ về phía bát; hắn kéo lại vừa kịp.
“Ngươi biết đường về bếp rồi, không cần bản đồ.”
Con gà mổ vào tay hắn. Hắn bẻ cho nó mẩu bánh, rồi ăn hết bát cháo trước khi đi.
Hôm ấy bà Vân muốn kiểm lại hai đoạn đá sau một đêm khô: đoạn ngoài tảng lớn nơi Xám đã đi không tải, và đoạn bậc phía nam mới được thử bằng gậy cùng sọt nhẹ. Nếu cả hai không xê dịch, Hổ có thể dắt Xám không tải qua cả hai đoạn tới đường đất. Hành lý và chiếc nồi vẫn ở trạm; họ chưa quyết chuyển hết hôm nay.
Ông Thạch đứng đầu nam, Mai giúp bà Vân kiểm bậc đá, ông Quân xem lại chỗ cành buộc. Người trông mảnh đất cạnh bậc ghé tới, thấy lối xuống mương vẫn thông. Bà chỉ chỗ dây buộc cành đã lỏng, nhờ Hổ thắt lại. Anh hỏi trước khi chạm vào cành sống, rồi dùng nút có thể tháo mà không kéo sát thân cây.
Xám tới khoảng quay đầu gần tảng đá, nhớ được mùi cỏ ở đó. Nó dừng ngửi chỗ hôm trước, rồi nhìn dải đá. Hổ để nó đứng, Thanh Nghi quan sát mép sỏi. Bảo mang dây đo và nắm cỏ nhưng không cầm lồng gà; Ô Kê đang ở trạm với bà chủ, đã được cho ăn.
Con la bước qua đoạn đầu chậm hơn hôm qua. Tới viên thứ hai, nó dừng. Bảo nhìn chân sau, định nói bà Vân xem chỗ sỏi, nhưng viên đá vẫn yên. Xám đứng một lát rồi tự bước tiếp, lên khoảnh bằng. Hổ cho nó nghỉ, kiểm móng và chân, không thấy dấu đau. Ông Tấn nhìn lại mép đá sau lượt qua, nhặt một viên sỏi nhỏ đã rời chỗ, chèn lại dưới viên lớn.
Từ khoảnh bằng tới bậc phía nam, con đường mới chỉ được đo và thử bằng gậy. Hổ dắt Xám chậm qua đoạn đất, còn Bảo cùng Mai đi trước nhìn nền. Tới bậc, con la ngửi gốc cây, thử chân vào viên thấp nhất rồi rút về. Tiếng móng cọ đá làm ông Quân ngẩng lên.
“Có viên nào động không?” Hổ hỏi.
“Ta không thấy. Nó rút chân trước khi dồn sức.”
Hổ dẫn Xám lùi về khoảng rộng. Bảo thấy mặt trời đã lên cao, hỏi có nên nghỉ ăn trước. Bà Vân đồng ý. Cả nhóm ngồi trên nền bằng, không buộc la vào dây chống thân cây hay cành nhà người trông đất. Mai chia ổi, Bảo đổi một miếng bánh. Hổ đặt cỏ trước mặt Xám, để nó ăn mà không phải vươn về phía bậc.
Bảo lấy hai bản chép ra, dùng hòn đá nhỏ chặn góc. Ông Thạch nhìn tên một điểm trên bản thương hội, nói đó là tên trạm cũ nằm trên đường về chợ; ông không chắc hiện nó còn nhận khách. Trên bản lão Kỷ có một nét chỉ hướng núi, nhưng không có tên ngã chia người gánh hàng kể. Ông đề nghị sau khi qua bậc, nhóm tới tận ngã chia hỏi người ở đó.
“Trên giấy này có cây cầu không?” Mai hỏi.
Bảo tìm. Tấm nhiều địa danh có ký hiệu cầu ở một nơi, nhưng chữ bên cạnh mờ trong bản chép. Hắn không biết ký hiệu ấy có phải cây cầu đã cháy hay một cầu khác. Hắn đặt một mảnh giấy nhỏ cạnh ký hiệu, ghi “chưa đối được”, không tô nó lên sơ đồ lối mỏ.
“Có lẽ tấm gốc đọc rõ hơn,” hắn nói.
“Có thể,” Thanh Nghi đáp. “Hứa Đồng đang giữ cho ngươi. Nếu cần, ta viết hỏi phần ấy.”
Bảo nhìn đường đất phía sau bậc. Hắn muốn biết ngay bản gốc viết gì, nhưng thư phải đi và về qua các trạm. Hắn ghi câu hỏi vào mép sổ, định tối nhờ người gửi. Bản đồ lão Kỷ cho hắn một hướng để hỏi; con đường ngay trước mắt vẫn phải do họ xem và thử.
Sau bữa nghỉ, bà Vân và ông Quân kiểm bậc một lần nữa. Một hạt đá nhỏ đã lăn khỏi chỗ chèn khi người gánh hàng qua sáng nay. Họ đặt lại, thử bằng chân rồi để Hổ đưa Xám đến. Người trông đất đứng cạnh lối xuống mương; bà muốn nhìn dây buộc cành có bị tải quệt vào không, dù lần này la chưa mang lồng.
Xám bước tới chân bậc, hạ đầu ngửi. Hổ đi phía trong, không kéo đầu nó lên cao. Con la nhấc một chân, đặt lên viên thấp, dừng. Chân sau còn ở nền dưới; nó thử dịch người nhưng chỗ đứng không đủ thẳng. Hổ lập tức để nó lùi về, không bắt tiến tiếp.
Ông Quân chỉ viên thấp: mặt đặt chân đủ rộng cho người, nhưng khoảng từ đó tới nền tiếp theo hơi ngắn với bước của Xám. Ông đề nghị đổi vị trí một viên dẹt để tạo thêm chỗ đặt, không kê trực tiếp lên rễ cây. Bà Vân đồng ý thử sau khi kiểm phần đất bên dưới. Họ nhấc viên, chuyển sang nền cứng hơn, chèn bằng đá nhỏ.
Lần sau, Xám đặt chân lên viên mới, bước qua phần rễ và dừng trên nền bằng phía trên. Hổ cho nó đứng yên, chờ chân sau lên đủ. Bảo gần như reo, nhưng bà Vân giơ tay. Cả con la đã qua bậc, song phía trước còn đoạn nối tới đường đất; họ cần nhìn cả chỗ nó sẽ quay lại.
Ông Thạch dẫn họ đi tiếp một quãng ngắn. Con đường qua bụi rồi mở ra một dải đất nện, có dấu chân và vết kéo sọt. Xám đi không tải tới đầu dải ấy. Hổ dừng ở chỗ đủ rộng, cho nó uống nước. Từ đây ông Thạch nhận ra lối mình từng gánh hàng ra đường phía nam; ông chưa dẫn nhóm tới tận ngã chia.
Bảo đứng cạnh Xám, nhìn lại bậc đá bị cây che một phần. Hắn đã đi qua lối mỏ năm ấy giữa khói và tiếng gọi; hôm nay hắn đi chậm đủ để ghi từng chỗ dừng. Con đường không còn giống nguyên đường cũ, nhưng từ trạm tới dải đất này, họ đã có một lối cho la không tải trong lúc trời khô.
Trên đường quay lại, Xám xuống bậc chậm. Một viên chèn dịch nhẹ khi móng sau chạm vào. Hổ giữ dây, để nó đứng trên nền bằng, rồi ông Quân chỉnh lại viên ấy. Bà Vân ghi chỗ cần kiểm thêm trước khi đưa tải; người trông đất cũng muốn xem dây buộc cành sau một đêm gió.
Về tới trạm, Bảo đưa Ô Kê ra khỏi lồng. Con gà chạy đến chỗ Xám, nhìn nắm cỏ rồi mổ một cọng. Hắn kể hai con đường đã nối tới dải đất phía nam, sau đó mở túi cho Hổ xem tờ lão Kỷ chép lại. Anh cầm rất nhẹ, sợ góc giấy gặp gió.
“Giờ ta đã có thứ để đối,” Hổ nói.
“Và vẫn còn phải đi xem.” Bảo đặt mảnh bìa lên bản chép. “Nếu tìm được ngã chia, cháu sẽ biết nên hỏi nét nào.”
Hắn viết thư cảm ơn Hứa Đồng, báo đã nhận hai bản chép và hỏi chữ cạnh ký hiệu cầu trên tấm nhiều địa danh có đọc được ở bản gốc không. Hắn cũng nói Xám đã thử qua lối mỏ không tải, nhóm chưa đưa nồi và hành lý đi. Viết xong, hắn đặt bút xuống, nhớ bát cháo sáng mình đã ăn nguội.
Tối nay cơm còn nóng. Hắn gấp thư sau khi mực khô, đặt vào túi, rồi ngồi xuống cạnh Thanh Nghi. Ngoài sân, Xám nhai cỏ; dưới bàn, Ô Kê đang tìm hạt cơm rơi. Bảo kéo bát lại gần, ăn trước khi con gà tìm được đường lên ghế.