Chương 317: Ngã Ba Không Có Bảng
Khoảng nghỉ ông Thạch chỉ nằm sau một hàng cây thấp, cách đường đất không xa. Đó là một sân nhỏ có mái che, cạnh sân là căn nhà lợp ngói cũ. Trước cửa có hai chiếc sọt, một chiếc đã lật úp để hong đáy.
Người trông chỗ nghỉ là một bà lão đang ngồi nhặt đậu. Thấy khách tới, bà đứng dậy phủi tay, hỏi họ cần nước hay cần chỗ ngủ. Ông Thạch chào bà, nói nhóm vừa qua lối mỏ và muốn nghỉ một đêm. Bà nhìn Xám, chỉ chỗ buộc dưới mái, rồi nói trong nhà chỉ còn một gian nhỏ. Nếu bốn người không ngại ngủ chung hai phản, bà có thể dọn.
Tạ Tiểu Bảo hỏi có chỗ đặt một chiếc nồi không. Bà nhìn sọt trên lưng la, nói để trong phòng được, miễn không chắn cửa. Hắn cảm ơn, phụ Hổ tháo tải. Chiếc nồi được đưa xuống trước, đặt lên nền gỗ; nắp để cạnh đó, vẫn bọc vải. Ô Kê nhảy ra khỏi lồng, chạy về phía hai sọt đậu. Bà lão nhấc một chiếc lên cao trước khi Bảo kịp giữ nó.
“Gà của cậu thích đậu?”
“Thích cả những thứ không phải đậu.”
Bà đưa hắn một cái rổ nhỏ, bảo đổ thóc vào đó cho gà ăn, đừng để nó bới đống bà đang nhặt. Hắn làm theo. Ô Kê mổ thóc được vài cái, rồi quay đầu nhìn chiếc sọt treo trên cột.
Ông Thạch ở lại uống nước, nói sáng mai sẽ quay về xóm. Mai không đi cùng ông đến đây; cô nhận mảnh thư cảm ơn bà chủ trạm rồi đã về khi nhóm thu xếp tải ở đầu lối. Bảo kể lại chỗ bà Vân dặn kiểm nước sau mưa, ông Thạch nói mình sẽ báo những người gánh hàng đừng tự lấy đá đã chèn khỏi nền.
Thanh Nghi hỏi từ sân nghỉ tới ngã chia có xa không. Ông chỉ con đường phía trước: đi qua một bãi cỏ và một đoạn cây mọc sát, sẽ thấy lối rẽ. Ông thường chọn hướng chợ, còn hướng núi ông chỉ đi một đoạn để giao hàng cho người quen.
“Có biển tên làng không?” Bảo hỏi.
“Lần gần nhất ta đi không thấy bảng. Có một gốc cây từng buộc vải đánh dấu, nhưng vải dễ bị gió cuốn. Nếu hỏi, hỏi người đang ở đó.”
Bà lão trông sân nói sáng mai có người chở củi từ phía ngã rẽ lên. Bà có thể giới thiệu nếu họ ghé lấy nước, song không chắc người ấy đi vào tận thung lũng. Bảo ghi lời ấy cùng ngày, rồi mang bình ra giếng giúp Hổ lấy nước cho Xám.
Đêm xuống, bà lão nấu cơm và một nồi canh rau. Nhóm đã trả tiền chỗ nghỉ, còn bữa ăn được bà tính riêng. Bảo nhìn bà nhặt đậu cạnh bếp, hỏi có thể mua một ít đậu nấu thêm không. Bà đồng ý, đưa hắn cái rổ và chỉ chum nước.
Hắn vo đậu trong chiếc rổ nhỏ, vài hạt trôi theo nước. Hắn chụp lại được một hạt, hai hạt còn lại rơi xuống rãnh. Ô Kê chạy tới trước cả hắn. Bà lão bảo rãnh này dẫn ra vườn, không cần thò tay xuống; con gà đã tìm được một hạt, hạt kia nằm dưới lá.
“Ta nấu cho nhiều người, mất hai hạt vẫn đủ,” bà nói.
“Nhưng con gà của cháu tính cả hai.”
Hổ đem cho hắn cái vá có lỗ nhỏ. Lần sau Bảo múc đậu lên trước, đổ nước ra sau. Bà lão đặt nồi lên bếp của bà, không để hắn dùng chiếc nồi đen vừa chuyển qua đường. Khi đậu sôi, mùi bốc lên làm Ô Kê nhảy đến gần; bà chắn bằng cái ghế, còn Bảo tìm một bát thóc để nó bận rộn.
Cả nhóm ăn cùng ông Thạch. Bà lão giữ lại một bát cơm cho cháu mình đang ở xóm bên, lấy lồng bàn che rồi mới ngồi xuống. Bảo nhìn cái bát, nhớ chuyện Mai kể mẹ cô vẫn để bát cho cha khi ông đi hàng về muộn.
“Nếu người về trễ, cơm nguội mất,” hắn nói.
“Thì hâm lại.” Bà lão xới thêm cho ông Thạch. “Để phần trước, rồi tính chuyện nóng sau.”
Bảo cúi nhìn bát của mình. Hắn đã gửi tin cho bà Mạnh qua nhiều người, chưa biết tin có tới nơi. Hắn không hỏi bà lão về làng Lạc Kê ngay trong bữa cơm; bà đã nói chỉ biết đường tới ngã rẽ, còn một lời nghe được không làm bữa cơm ở nhà hắn xuất hiện rõ hơn.
Ăn xong, ông Thạch giúp Hổ kiểm quai sọt nồi. Dây qua lối mỏ đã cọ vào một cạnh tre, có vài sợi gai xổ ra. Hai người thay đoạn dây ấy bằng phần còn lành, để nút ở chỗ dễ tháo. Bảo giữ cái nắp, xem lớp vải bọc có ẩm không; mép vải ngoài dính đất nhưng bên trong vẫn khô.
Thanh Nghi trải hai bản chép đường lên bàn. Trên bản lão Kỷ, nét hướng núi vòng qua một dấu cây rồi đi vào phần giấy chép thiếu. Trên bản nhiều địa danh, có một tuyến tới chợ và một nét mờ tách đi. Ông Thạch nhận ra tên chợ, nhưng không dám đặt ngã rẽ họ sắp tới vào đúng một điểm trên bản cũ. Bảo đánh dấu tạm bằng một mảnh giấy rời.
“Ngày mai tới nơi, cháu sẽ nhìn hướng mặt trời và đường nước,” hắn nói.
“Nhìn cả dấu chân nữa,” Hổ thêm. “Nhưng một dấu chân mới chỉ cho biết có người đi, không cho biết người ấy tới đâu.”
Ô Kê nhảy lên ghế, bước đúng vào bản chép. Bảo bế nó xuống. Một dấu chân nhỏ còn dính bụi in bên mép giấy; hắn dùng khăn khô phủi nhẹ. Bà lão nhìn thấy, bảo có lẽ con gà vừa cho họ một ngã rẽ mới: từ bản đồ tới đĩa đậu.
Sáng hôm sau, người chở củi ghé thật. Ông dừng xe trước sân, xin nước cho con ngựa nhỏ. Khi Bảo hỏi về ngã chia, ông nói mình từ lối chợ lên, ba ngày nay không đi hướng núi. Ông biết một nhà gần ngã rẽ thường bán nước cho khách; người nhà ấy có thể biết ai vừa đi về phía thung lũng.
Hổ hỏi có thể dắt Xám theo đường từ đây tới ngã chia không. Người chở củi nói xe của ông vừa đi qua, nhưng một đoạn bùn phía dưới có vệt bánh sâu; la mang tải nên đi sát nền cỏ cứng, đừng xuống giữa rãnh. Ông chỉ bằng tay, không hứa đoạn ấy không đổi nếu trời mưa.
Nhóm trả tiền phòng, cơm và phần đậu đã mua. Bảo rửa bát đựng thóc, trả rổ cho bà lão. Ông Thạch tạm biệt ở đầu sân, hẹn gặp lại nếu có dịp qua trạm; nhóm trả phần công chuyển đồ đã bàn hôm trước. Ông cất tiền rồi chỉ vào quai sọt nồi: “Nút mới đã thắt. Đến chỗ nghỉ tiếp thì kiểm lại.”
Xám đi giữa nhóm, mang lồng Ô Kê, túi lương và chiếc nồi được buộc ở giữa tải. Hổ dắt, Thanh Nghi giữ phía trong khi đường hẹp, Bảo đi cạnh để nhìn lồng. Dư An theo sau, nhắc mọi người dừng nghỉ trước khi chân mỏi quá. Hắn thấy cách đi này không nhanh như chạy một mình, nhưng những thứ cần mang đều đang di chuyển cùng hắn.
Đến đoạn bùn người chở củi kể, vệt bánh xe hằn sâu. Hổ dừng Xám, kiểm phần cỏ bên trong. Nền ở đó cứng hơn rãnh, song có một cành nằm ngang. Anh nhấc cành đưa khỏi lối, đặt sát bụi, rồi dẫn la qua. Bảo giữ lồng khỏi nghiêng; Ô Kê mổ vào nan nhưng không làm đổ bát nước đã được lấy ra trước khi đi.
Qua bãi cỏ, họ thấy ngã chia. Một con đường có vệt bánh xe tiếp tục về phía thấp; lối còn lại hẹp hơn, men lên sườn núi. Không có bảng tên. Ở gốc cây giữa hai lối chỉ còn một đoạn dây bạc màu, đầu dây sờn, không thấy mảnh vải nào.
Bảo lấy bản chép lão Kỷ. Một nét vòng qua dấu cây rồi hướng về núi, nhưng trên bản cũng có chỗ giấy thiếu. Hắn xoay tờ giấy, cố đặt hướng núi ngoài thực địa cạnh nét vẽ. Thanh Nghi giữ góc cho khỏi bay; Hổ chỉ vệt bánh xe, còn Dư An nhìn dòng nước nhỏ chảy ngang đường thấp.
“Lão có thể vẽ cái cây này,” Bảo nói, rồi tự sửa: “Hoặc một cây khác.”
Nhà bán nước nằm sau bụi tre đúng như người chở củi kể. Chủ nhà là một người phụ nữ đang phơi khăn. Nàng nghe tên Lạc Kê, nói có nghe người đi hàng nhắc đến làng trong thung lũng, nhưng bản thân chưa tới đó. Gần đây nàng bán nước cho người gánh nấm đi theo lối núi; người ấy có nói sẽ ghé một xóm ở sâu hơn, nhưng không nói tên làng.
Bảo hỏi người gánh nấm đi lúc nào. Nàng đáp sáng qua. Ông ấy thường quay lại lấy nước trên đường về, nhưng có chuyến đi mấy ngày mới trở lại. Nàng không biết ông có gặp ai ở Lạc Kê hay không.
Họ mua nước nóng và để Xám nghỉ ở chỗ chủ nhà chỉ. Thanh Nghi hỏi có thể xem đường núi một đoạn mà không đi sâu không. Chủ nhà chỉ một bãi bằng sau khúc ngoặt, từ đó có thể nhìn sườn núi và dòng nước; xa hơn nữa nàng không muốn chỉ khi chưa đi gần đây.
Bảo tới bãi bằng cùng Hổ, không mang nồi. Từ đó hắn thấy lối men theo một khe nước nhỏ rồi khuất sau hai mỏm đá. Trên sườn có vài vạt đất trống và một mái nhà thấp ở xa. Không thấy làng. Hắn so hướng với bản chép lão Kỷ, ghi “hướng có thể khớp; chưa biết điểm đến”.
“Mai cháu muốn đi tiếp,” hắn nói.
“Ta cũng muốn.” Hổ nhìn về phía đường đã khuất. “Nhưng phải hỏi chỗ nghỉ và nước cho Xám trước. Nếu chỉ đi xem, ta có thể để tải ở nhà bán nước nếu họ đồng ý.”
Khi trở lại, họ hỏi chủ nhà. Nàng nói có thể cho nghỉ ở gian ngoài một đêm, nhưng không nhận giữ một mình cả chiếc nồi nếu nhóm rời đi lâu; nhà nàng còn phải ra đồng. Thanh Nghi nói cả nhóm có thể ở lại, sáng mai hỏi tiếp người qua đường rồi quyết định đi cùng đồ. Hai bên bàn giá nước và chỗ buộc la.
Tối, Bảo viết vào sổ: “Ngã ba không bảng. Đường thấp tới chợ theo lời người chở củi. Đường núi có người gánh nấm đi hôm qua; chưa biết tới Lạc Kê.” Hắn đặt hai bản chép cạnh trang mới, chèn miếng bìa bà Từ cho ở giữa.
Ô Kê ngồi trên lồng nhìn ra cửa. Ngoài đó chỉ có bóng núi và chiếc dây bạc màu trên gốc cây. Bảo buộc lại túi lương, rồi nói với con gà:
“Ngày mai ngươi không được tự chọn đường.”
Nó cục một tiếng. Hắn không biết đó là đồng ý hay phản đối, nên kiểm then lồng thêm lần nữa trước khi ngủ.