Chương 318: Người Gánh Nấm Xuống Núi
Sáng hôm sau, Tạ Tiểu Bảo tỉnh dậy vì nghe tiếng ai đó nói chuyện ngoài sân.
Chủ nhà bán nước đang hỏi một người vừa tới có cần đun thêm nước không. Bảo ngồi dậy, thấy ánh sáng lọt qua khe cửa. Hắn xỏ dép, định chạy ra thì Ô Kê nhảy khỏi lồng, chắn ngay trước chân.
“Ngươi đi cùng,” hắn nói, rồi ôm con gà lên.
Người ngoài sân là một ông gánh hai sọt nấm, vai áo thấm mồ hôi. Chủ nhà nhận ra ông, nhắc hôm qua có khách hỏi đường núi. Ông đặt đòn gánh xuống, nhìn Bảo và con gà, rồi nhìn chiếc lồng ở hiên.
“Cậu hỏi đường hay nó hỏi?”
“Cháu hỏi. Nó chỉ hỏi ăn.”
Ông cười, nhận bát nước nóng. Thanh Nghi và Hổ cũng ra sân. Bảo nói tên Lạc Kê và hỏi ông có từng tới đó không. Người gánh nấm đặt bát xuống, bảo mình từng đến một xóm gần lối vào thung lũng, nhưng chuyến này chỉ giao nấm ở nhà dưới sườn, không vào làng.
“Ông có biết bà Mạnh không?” Bảo hỏi tiếp.
“Ta nghe tên bà bán bánh ở phía trong. Chưa gặp bà.” Ông nhấc tấm vải che sọt nấm. “Lần gần nhất ta hỏi đường vào làng là chuyến trước. Hôm qua không qua đó, nên không biết bà ấy có ở nhà hay không.”
Hắn gật đầu, dù câu trả lời chưa đưa được bà Mạnh tới trước mặt. Thanh Nghi hỏi đường từ ngã ba tới xóm ông vừa giao nấm. Ông dùng một cọng củi vẽ trên đất: lối men khe nước, qua hai mỏm đá, tới chỗ có một cây nghiêng, rồi rẽ về mái nhà thấp mà Bảo đã nhìn thấy từ xa.
“Muốn đi sâu hơn thì sao?” Hổ hỏi.
“Từ nhà đó có lối men sườn. Họ biết nhiều hơn ta vì ở gần. Ta không đi cùng la, chỉ gánh sọt, nên không biết hết những chỗ la cần quay.”
Bảo mang bản chép lão Kỷ ra. Người gánh nấm nhìn nét núi và đường cong, nhận ra một cái tên ghi gần lối phía trong, nhưng không dám xác định từng khúc đường. Ông đặt cọng củi cạnh dấu cây, nói:
“Trên giấy này có vẻ hướng về phía ta vừa đi. Nhưng cây ngoài đường có thể thay, còn giấy thì không.”
Hắn đặt sổ của mình cạnh bản chép, vẽ lại đường người gánh nấm vừa chỉ và ghi tên người nói. Ông giới thiệu mình họ Đỗ. Trước khi rời sân, ông cho Bảo nhìn phần nấm còn lại trong sọt; hắn mua một ít từ tiền lương riêng, nhờ chủ nhà xem nấm ấy thường nấu thế nào. Nàng bảo có thể nấu canh nếu nấm còn tươi và được chọn sạch; nàng biết loại ông Đỗ vẫn bán ở đây.
“Cháu mua ăn trước khi đi à?” Hổ hỏi.
“Mua để nấu lúc nghỉ trưa.” Bảo nhìn chiếc nồi bọc vải. “Nếu được dùng bếp của người ta.”
Chủ nhà nói có thể đun ở bãi đất sau nhà nếu nhóm còn ở lại, nhưng nếu đi tiếp thì cần hỏi chỗ nghỉ trên đường. Hắn cất nấm vào túi thoáng, không đặt sát đáy sọt nồi. Ô Kê nhìn túi, chờ hắn quay lưng; Hổ nhấc lồng gà lên trước khi nó kịp mổ.
Nhóm bàn đường đi. Lối ông Đỗ vừa chỉ tới mái nhà thấp chưa xác nhận được toàn tuyến vào Lạc Kê, nhưng là một đoạn có người vừa đi. Họ quyết định mang đồ theo tới nhà ấy trong ngày, hỏi tiếp trước khi đi sâu. Hổ kiểm tải và cỏ của Xám, Dư An xem chân Bảo, Thanh Nghi kiểm giấy cùng chiếc lệnh. Bảo trả tiền nước, chỗ ngủ và phần nấm, rồi nhờ chủ nhà giữ lại tin nếu Hứa Đồng hoặc trạm nghỉ phía bắc gửi thư tới.
Chủ nhà nhận địa chỉ nơi họ định hỏi tiếp, nhưng nói chưa biết người đưa tin có ghé đó không. Nàng có thể chuyển thư về trạm phía bắc nếu nhóm rời đi và không để được nơi nhận rõ hơn. Thanh Nghi cảm ơn, viết một mảnh ghi hướng đi, nhờ nàng báo cho người đưa thư nếu có chuyến phù hợp.
Ra khỏi ngã ba, con đường núi đi men theo khe nước nhỏ. Hai mỏm đá hiện ra như ông Đỗ vẽ, một mỏm đứng cao, mỏm kia thấp và phủ rêu. Bảo nhận ra ngay, song thay vì đánh dấu cả con đường đã đúng, hắn ghi đoạn từ ngã ba tới hai mỏm đã tự đi.
Đường sau mỏm đá hẹp hơn. Một bên có rãnh nước, bên kia là bờ đất trồng cây non. Hổ dắt Xám đi chậm; tải nồi và lồng gà không chạm cành, nhưng túi lương bên ngoài hơi lệch. Anh dừng chỉnh, Thanh Nghi giữ dây phía trước để con la không quay về chỗ rãnh.
Bảo xem quai sọt nồi đã được ông Thạch thay. Dây vẫn chắc, chỉ có nút hơi xô. Hắn đưa cho Hổ kiểm, hai người buộc lại ở chỗ nền bằng. Ô Kê mổ vào nan lồng, phản đối thời gian chờ. Bảo hỏi nó có muốn tự đeo túi lương không; con gà quay mặt về phía nước.
Đến cây nghiêng, họ thấy một vết chẻ lớn trên thân. Lối rẽ không rõ như trên đất sân vì có hai vệt cùng dẫn xuống. Thanh Nghi chỉ bên trái có dấu giày mới, Hổ thấy bên phải có vết kéo cành. Bảo mở sổ nhìn hình ông Đỗ vẽ, rồi nhớ ông chỉ nói rẽ về mái nhà thấp, không dặn chọn trái hay phải tại thân cây.
Họ chưa tách nhóm. Dư An đề nghị đứng cao hơn để nhìn xem hai vệt có nhập lại không. Hổ đi vài bước tới nền đá, thấy lối bên trái vòng qua gốc cây rồi khuất; lối bên phải xuống gần khe hơn. Từ đây không thấy lối nào tới mái nhà.
Bảo nhớ trên bản chép lão Kỷ có đường cong đi theo bên một dấu nước. Hắn tìm nét ấy, nhưng bản chép không ghi cây nghiêng. Hắn không muốn biến đường cong trên giấy thành câu trả lời, song nó cho hắn ý định hỏi tiếp về khe.
May có tiếng người từ dưới vọng lên. Một cô bé mang bó lá trên lưng đang đi về phía cây nghiêng. Thanh Nghi chào và hỏi nhà thấp bên sườn ở lối nào. Cô bé chỉ vệt bên trái, nói lối kia xuống lấy nước, không tới sân nhà. Nàng hỏi tiếp có thể dắt la không; cô bé nhìn Xám, bảo đường tới nhà có một đoạn bậc đất, người nhà vẫn dắt con lừa nhỏ đi, còn tải của nhóm có vừa hay không thì cô không biết.
Bảo cảm ơn, ghi tên cô là An và buổi gặp. An nhìn lồng Ô Kê, hỏi gà có biết gáy không. Hắn nói nó biết gáy khi muốn, còn hắn không biết lúc nào nó muốn. Cô bé cười, nói nhà mình có gà hay gáy lúc người ta vừa ngủ. Hai bên đi cùng tới gần sân; An rẽ về nhà mình trước, chỉ mái nhà thấp ở cuối hàng cây.
Người mở cửa là một ông già mặc áo vá ở khuỷu tay. Nghe họ hỏi, ông mời vào sân nghỉ, nhưng không lập tức chỉ đường. Ông hỏi nhóm từ đâu tới, mang những gì, có ai cần nước hay thuốc không. Dư An đáp cả nhóm đi từ trạm phía bắc, đã có nước nhưng muốn xin thêm cho Xám. Ông đưa một xô, chỉ giếng cạnh hàng rào.
Bảo hỏi ông có biết đường vào Lạc Kê không. Ông già nhìn về phía sườn sau nhà.
“Ta từng tới ngoài lối vào, lâu rồi. Bên trong có bà Mạnh bán bánh, phải không?”
“Vâng. Cháu ở đó.” Bảo đặt cuốn sổ xuống bàn. “Ông có gặp bà gần đây không?”
“Không. Người ở xóm này thỉnh thoảng gửi đồ theo chuyến, nhưng mấy tháng qua ta không tự vào.” Ông chỉ một người đang bổ củi ở sân bên. “Con ta đi đường núi nhiều hơn. Chờ nó nghỉ, ta hỏi.”
Bảo nhìn theo. Người bổ củi nghe gọi, cắm rìu xuống thớt rồi sang. Anh nói lần gần nhất mình tới một chỗ có giếng ở ngoài lối vào là vài tuần trước; anh giao muối cho người đợi ở đó, không vào tận làng. Anh biết lối tới giếng, qua một đoạn dốc và một chỗ rẽ có cột đá thấp, nhưng sau những cơn mưa gần đây chưa trở lại.
Thanh Nghi hỏi có thể dắt Xám cùng tải không. Anh nói trước kia từng thấy người dắt la đến gần giếng, nhưng không muốn khẳng định nền đường sau mưa. Anh vẽ trên mặt bàn bằng giọt nước: mái nhà này, chỗ rẽ, cột đá và giếng. Bảo chép lại, ghi rõ anh đã đi mấy tuần trước, không phải hôm nay.
“Cháu từng đi đường ấy,” Bảo nói, “nhưng lúc ra khỏi làng, cháu không ghi hết.”
Ông già chỉ tờ lão Kỷ trong tay hắn. “Nếu có giấy, đặt cạnh lời nó vẽ. Xem có gì giống, có gì thiếu.”
Bảo mở bản chép trên bàn. Một nét đi về phía núi có dấu gần chỗ giống dòng nước, nhưng không ghi giếng ở vị trí có thể nhận ngay. Anh con trai chỉ nơi mình nhớ, không tự điền vào bản của lão Kỷ. Bảo vẽ một tờ riêng: phần theo bản cũ, phần theo lời người vừa gặp, và chỗ hai người chưa biết có phải một hay không.
Hổ hỏi nhà có thể cho nhóm nghỉ trưa không. Ông già đồng ý, còn nói nếu muốn nấu nấm thì dùng bếp ngoài sân. Bảo lấy túi nấm ông Đỗ bán, nhờ ông xem từng cây; ông bỏ một cây đã dập, bảo phần còn lại là loại mình vẫn mua của ông Đỗ. Thanh Nghi rửa nấm, Dư An giúp lấy nước, Hổ chẻ ít củi được chủ nhà cho.
Bảo nhìn chiếc nồi đen trong sọt. Ông già có nồi riêng để trên bếp, nên hắn không tháo dây của mình. Ông đưa một nắm rau vườn, bảo canh có rau thì đỡ phải ăn hết nấm trong một bữa. Bảo hỏi giá, ông đáp mời khách, nhưng nếu họ cần mang thêm cho đường dài thì phải hái và tính sau. Hắn nhận phần mời, không tự ra vườn.
Khi canh sôi, Ô Kê đứng ngoài ngưỡng cửa. An mang bó lá đi ngang, thấy con gà liền đặt xuống một hạt thóc. Nó mổ rồi quay sang nhìn bó lá. Cô bé hỏi có thể chạm vào lưng nó không; Bảo gật đầu, giữ cho nó đứng yên. Nó chịu được một lần vuốt, đến lần thứ hai đã chạy về phía bếp.
Trong bữa ăn, ông già hỏi Bảo nhớ gì về giếng ngoài lối vào. Hắn nhớ mình từng nhìn thấy nước và con đường qua đó, nhưng những ngày rời làng đã qua lâu, có cảnh rõ và cảnh lẫn với những lần đi khác. Hắn kể điều chắc, dừng ở chỗ không chắc. Anh con trai không sửa thay hắn; anh chỉ nói chỗ giếng mình tới có một phiến đá phẳng bên cạnh.
Bảo ghi chi tiết ấy, rồi hỏi liệu có thể tới giếng trong một ngày không. Anh con trai nói đường trước đây đi bộ từ nhà tới được trong ngày nếu trời thuận, nhưng họ có la và đồ; nên xuất phát sớm, tới nơi nhìn tình hình. Anh không nhận dẫn ngay vì còn phải làm ruộng, nhưng có thể đưa nhóm tới chỗ cột đá vào sáng mai nếu công việc xong sớm.
Hắn muốn đề nghị trả tiền ngay. Thanh Nghi hỏi trước thời gian và phần đường anh thực sự quen. Hai bên bàn công dẫn tới cột đá, không tính như dẫn cả vào làng. Anh đồng ý, hẹn sáng báo lại sau khi xem ruộng; nếu không đi được, anh sẽ đưa lời nhắn cho cha.
Chiều, nhóm được phép nghỉ ở gian ngoài. Hổ cho Xám ăn và kiểm dây cương; Bảo rửa nồi của chủ nhà, đặt úp cho ráo. Hắn nhìn chiếc nồi đen vẫn nằm trong sọt rồi nhìn hai bản chép đường. Lối tới giếng đã có người vẽ từ trí nhớ, còn tin về bà Mạnh vẫn chưa có lời đáp.
Tối, hắn viết vào sổ: “Tới nhà dưới sườn. Người đi gần nhất biết giếng ngoài lối vào, chưa gặp bà Mạnh.” Hắn đặt bút xuống, chạm tay vào mảnh giấy ghi những người đã chuyển thư về làng. Các cái tên vẫn ở đó, nhưng chưa ai báo thư đã tới.
Ngoài sân, An gọi con gà nhà mình vào chuồng. Ô Kê ngẩng đầu nghe, rồi đứng sát chân Bảo. Hắn cúi xuống nhấc nó vào lồng, đặt bát nước và kiểm then. Qua cửa sổ, bóng núi nằm sau mái nhà thấp. Ngày mai họ sẽ đi về phía ấy, tới nơi người con trai có thể dẫn, rồi tự nhìn tiếp con đường.