Chương 346: Chìa Khóa Ở Cột Hiên
Chiếc bánh bà Mạnh đặt xuống vẫn nằm nghiêng trên bàn khi Tạ Tiểu Bảo tỉnh dậy.
Hắn mất một lúc mới nhớ hôm qua mình đã nghe tiếng nó chạm mặt gỗ. Hắn bước tới, nhìn chiếc bánh rồi nhìn hai bàn tay bà. Các ngón tay đã rời nhau hơn trước; một bàn tay hướng về phần bột đậy bằng khăn ở bên cạnh.
“Bà định làm cái nữa à?”
Bà không đáp. Bảo đứng chờ, rồi tự cười mình. Hắn vừa hỏi điều chưa ai biết, trong khi chỉ tối qua đã kể cho bà nghe rằng mình nghe thấy chiếc bánh rơi.
Ngoài hiên, Lâm Hổ đang nhóm lửa. Thanh Nghi đưa cho hắn bình nước, nhờ hắn đặt gần bếp. Hôm nay cả nhóm muốn trở lại những ngõ chưa kiểm tra hết; Dư An cũng muốn sang nhà lão Kỷ xem mái hiên sau cơn gió đêm qua.
Bảo mang bức hình mặt đá trong rãnh ra xem lần nữa. Đường đục chạy xuống rồi rẽ ngang, phần tiếp theo bị một mảnh đá nghiêng che. Ông Cẩn nói sẽ hỏi người từng làm cùng cha để biết cách đặt những phiến đá. Phần hạt sẫm lấy từ rãnh vẫn nằm trong mảnh vải Thanh Nghi gấp riêng.
“Trong làng có ai giữ giấy về giếng không?” hắn hỏi.
Dư An nhìn hắn. “Cháu nghĩ tới lão Kỷ?”
“Có thể lão biết. Nhưng tờ giấy trong tay lão chưa xem hết được.” Bảo gấp hình. “Trước đây trong làng còn có từ đường. Mỗi lần có việc chung, người lớn hay tới đó. Con chưa về phía ấy.”
Hắn nhớ một khoảng sân, cửa gỗ và một cái chuông nhỏ treo dưới mái. Khi còn bé, hắn từng được dặn đừng chạy nhảy trong sân ấy, nhất là hôm người làng họp. Hắn không nhớ ai giữ giấy tờ, cũng không biết sau những năm mình đi, căn nhà còn được dùng như trước không.
Thanh Nghi hỏi từ đường ở đâu. Bảo chỉ trên tờ giấy vẽ các ngõ: từ giếng đi theo lối phía sau bệ tượng, qua một hàng cây rồi rẽ về căn nhà mái thấp. Hổ nhìn đường, nói có thể ghé sau khi xem nhà lão Kỷ. Dư An sẽ cùng đi; Thanh Nghi ở lại với bà Mạnh và trông Ô Kê, Xám.
Ăn xong, Bảo tới lồng gà. Ô Kê đang mổ thóc, nghe hắn gọi thì ngẩng đầu. Hắn kể sẽ đi xem mái nhà lão Kỷ và ghé từ đường. Con gà mổ hết hạt trong máng, rồi quay về phía đường như mấy hôm trước.
“Ta chưa đưa ngươi ra giếng hôm nay,” hắn nói. “Còn chỗ trong rãnh, ông Cẩn đang hỏi người biết việc. Ta không quên đâu.”
Hắn thay nước rồi đi cùng Dư An và Hổ. Qua giếng, mép gàu vẫn che vết sứt theo hướng nhìn đã đánh dấu. Bảo không dừng lại đo; hắn chào người giữ dây, báo họ sẽ qua từ đường. Hôm qua có nhiều người đứng quanh đầu rãnh, hôm nay sân yên hơn.
Nhà lão Kỷ không bị dột sau cơn gió. Tấm phủ trên mái còn nguyên, đầu dây treo sát cột. Hổ kiểm nút, kéo lại một đoạn đã lỏng. Dư An xem bàn tay lão, tờ giấy và cây gậy tựa ghế; không có thay đổi lớn mà họ nhìn thấy. Bảo kể về chiếc bánh bà Mạnh đã đặt xuống và đường đục trong rãnh giếng.
Lúc đi, hắn đứng ở ngưỡng sân nhìn cánh cửa nhà trong vẫn khép. Lần trước hắn từng nghĩ chiếc hộp đựng giấy của lão có thể ở đó, nhưng chưa hỏi được ai. Hôm nay hắn không vào. Hắn chỉ đặt bình nước sạch cạnh ghế, nơi không cản lão nếu lão cầm gậy đứng dậy.
Từ nhà lão Kỷ, họ vòng về phía sau bệ tượng. Lối tới từ đường hẹp hơn hắn nhớ. Cỏ mọc ven hàng rào, nhưng giữa đường vẫn có chỗ đất trống. Qua hàng cây, một mái ngói thấp hiện ra. Chiếc chuông nhỏ dưới mái còn đó, dây kéo đung đưa trong gió.
Cửa sân mở. Bảo dừng lại, chờ cảm giác quen thuộc hiện lên. Hắn nhớ ngày còn nhỏ mình từng đứng ở cột hiên, nhìn người lớn bưng bát và đĩa vào trong. Nhưng trong trí nhớ ấy không có tờ sổ nào, cũng không có ai nói cái giếng ở giữa làng là gì ngoài chỗ lấy nước.
Một người phụ nữ đứng bên bậc hiên, tay giữ chổi. Nét mặt bà nghiêng về phía cửa, như đang định nói với người ở bên trong. Bảo không nhận ra ngay. Tới gần, hắn thấy trên tay áo bà có miếng vá màu sẫm, giống người từng nhắc hắn đừng chạy qua sân khi còn bé.
“Thím ơi?”
Bà không quay lại. Dư An chào bà, rồi chạm nhẹ vào cổ tay. Tay bà còn ấm. Ông nhìn chỗ bà đứng, mái hiên che được phần lớn nắng và không có dấu nước mưa tạt trực tiếp.
Hổ tới cửa gọi. Bên trong không có tiếng đáp. Cánh cửa chính khép nhưng không khóa; qua khe cửa, anh thấy ánh sáng rọi lên nền. Anh quay lại nhìn Bảo.
“Ngươi biết ai trông chỗ này không?”
“Ngày trước có mấy người thay nhau quét sân, mở cửa lúc làng có việc. Con không nhớ ai giữ chìa.”
Bảo nhìn người phụ nữ đang cầm chổi. Bà ở ngay cạnh cửa, nhưng chưa thể nói bà có định mở hay đóng nó. Hắn lên tiếng: “Chúng cháu muốn xem trong nhà có ai cần giúp. Nếu thím đang dọn, chúng cháu sẽ đi nhẹ.”
Hổ đẩy một cánh cửa vừa đủ cho ánh sáng vào. Bên trong có bàn dài, mấy chiếc ghế kê sát tường, phía sâu là nơi đặt đồ thờ. Một người đàn ông đang đứng bên bàn, tay giữ một tập giấy buộc dây. Không có ai nằm trên nền hay ở chỗ cửa khuất. Dư An gọi, rồi xin phép chạm vào cổ tay ông; tay vẫn ấm, người không đáp.
Bảo bước tới mép bàn. Tập giấy nằm trong tay người đàn ông, một góc giấy bên ngoài lộ ra những dòng chữ. Hắn nhìn thấy chữ nhưng không đọc được hết từ chỗ đứng, vì bàn tay che mất phần đầu và cuối. Hắn muốn kéo dây giấy ra, song người đàn ông đang giữ chặt; thay vào đó hắn đi vòng sang phía có ánh sáng.
Trên mép tờ giấy lộ ra hai chữ: *giếng làng*. Ngay dưới có một con số bị ngón tay che đi một phần.
“Ông Dư An, ở đây có nhắc tới giếng.”
Cả ba nhìn. Dư An nhận ra hai chữ ấy, còn dòng bên dưới không đủ để đọc. Hổ hỏi có thể nhìn từ phía trên không. Anh đứng xa bàn, nghiêng người, nhưng phần chữ vẫn bị tay người đàn ông che.
“Chúng ta không biết đây là sổ gì,” Dư An nói. “Có thể là ghi chép sửa giếng, cũng có thể là danh sách công việc. Đừng kéo khỏi tay ông ấy.”
Bảo không muốn đi khi mới thấy hai chữ. Hắn nhìn quanh bàn. Có một chiếc ghế trống, một ống bút và một hòn đá nhỏ chặn mấy tờ giấy rời. Những tờ ấy không nằm dưới tay người đàn ông. Hắn chỉ chúng cho Dư An xem.
“Nếu có tên người đang dùng, chúng ta biết tìm ai để hỏi,” Hổ nói.
Dư An nhìn những trang giấy rồi bảo Bảo có thể xem phần trên cùng, giữ đúng thứ tự. Hắn rửa tay bằng ít nước mang theo, chờ khô rồi cúi đọc. Tờ đầu ghi các việc chuẩn bị cho một buổi họp làng: quét sân, kê bàn, mang nước. Bên dưới là mấy cái tên; hắn nhận ra tên Thôi Đại Tráng nhưng không có ngày rõ ràng trên phần giấy ấy.
Tờ tiếp theo ghi việc kiểm lại mái hiên. Bảo không lật tiếp ngay. Ở góc dưới có một dòng nhỏ: *chìa cửa sau để ở cột hiên*. Hắn chỉ cho hai người xem.
“Cửa sau của từ đường à?”
“Chưa chắc,” Dư An nói. “Nhưng cột hiên ở đây có thể cho ta biết.”
Họ đặt giấy lại dưới hòn đá đúng thứ tự, rồi ra ngoài. Người phụ nữ vẫn đứng cạnh bậc hiên, tay cầm chổi. Bảo tới cột gần cửa, nhìn quanh. Trên một chiếc đinh thấp có sợi dây nhỏ, đầu dây treo một chìa khóa đồng đã sẫm màu. Nó nằm phía sau cột, từ sân nhìn thẳng không thấy.
“Chìa ở đây.”
Hổ không nhấc xuống ngay. Anh xem sợi dây có bị mục không, rồi hỏi Bảo có nhớ phía sau nhà có cửa nào. Hắn nhớ từng có một cửa nhỏ dẫn ra khoảng sân hẹp, nơi người làng để bàn ghế khi không dùng. Hắn chưa từng giữ chìa.
Dư An nhìn người phụ nữ bên hiên. “Nếu muốn mở để xem có người bên trong không, ta nên báo trước và để chìa lại đúng chỗ sau khi dùng.”
Bảo gọi bà, nói đã thấy chìa, hỏi có thể mở cửa sau để xem không. Bà không đáp. Hắn biết lời hỏi ấy chưa phải sự đồng ý, nhưng nếu có người ở gian sau thì cả nhóm cũng không muốn bỏ qua. Hắn nhờ Hổ cầm chìa, cả ba đi vòng quanh nhà.
Cửa sau ở cuối lối hẹp, thấp hơn cửa chính. Ổ khóa còn nguyên. Hổ thử chìa; lần đầu không xoay được, anh rút ra, lau ít bụi rồi thử lại. Khóa mở, tiếng kim loại nhỏ vang trong sân. Anh kéo cửa vừa đủ, đứng tránh để Bảo không bước thẳng vào bóng tối.
Bên trong là một gian nhỏ, có bàn, giá gỗ và một chiếc ghế thấp. Không ai ở đó. Một ô cửa trên cao cho ánh sáng vào. Trên bàn có chiếc bát úp, bên cạnh là một quyển sổ bìa cũ và vài mảnh giấy được buộc thành bó. Không có dấu nước tràn qua nền sau trận mưa.
“Không có ai cần giúp,” Hổ nói.
Bảo nhìn quyển sổ. Hắn đã tới đây để tìm xem có ai, nhưng giờ thứ mình hy vọng tìm được cũng nằm trên bàn. Dư An tiến lại, không mở sổ ngay. Ông nhìn quanh xem có tên người dùng hoặc ghi chú nào ở bìa. Trên bìa chỉ có một vệt mực và một miếng giấy dán cũ; mép giấy bong, chữ đã mờ.
“Chúng ta có thể đọc không?” Bảo hỏi.
Dư An nhìn về phía cửa dẫn ra gian chính. “Ta nghĩ có thể xem để tìm người phụ trách giếng, rồi để lại nguyên chỗ. Nhưng ghi lại thứ đã mở và nói cho người ở ngoài biết.”
Họ quay lại gian chính, nói với người đàn ông cầm tập giấy và người phụ nữ bên hiên. Không ai đáp. Bảo nói mình sẽ xem quyển sổ ở gian sau để tìm tin về giếng, không lấy đi, rồi mới trở vào cùng Dư An.
Quyển sổ có nhiều trang ghi những việc của làng: thay ngói, sửa rào, mua dầu. Chữ của vài người khác nhau; có trang ghi ngày, có trang không. Hắn tìm thấy một mục nhắc tới rãnh nước cạnh giếng. Tên người thợ phía cuối trang đã nhòe một phần. Bảo không tự điền phần mất.
Dòng trên ghi: *Mở đầu rãnh phía ngoài, không động chân thành.* Dưới đó là hai khoản vật liệu và một dấu tròn nhỏ ở mép giấy. Dấu tròn bị nếp gấp cắt qua; hắn không biết có giống đoạn khắc trên đá không.
“Ông Cẩn đã nói cha ông sửa đoạn ngoài,” hắn nói. “Tờ này cũng ghi như vậy.”
Dư An gật. “Nó có thể là cùng một lần sửa, nhưng tên chưa đọc đủ. Khi gặp ông Cẩn, ta cho ông xem bản chép và hỏi ngày.”
Bảo chép nguyên dòng, đánh dấu phần chữ mất. Hắn không xé trang, cũng không mang sổ đi. Khi đặt nó trở lại, hắn để miếng giấy đánh dấu bằng chính mảnh giấy của mình ở cạnh bìa, không kẹp vào trang cũ. Hổ khép cửa sau, thử khóa, rồi đưa chìa về treo lại sau cột hiên.
Bảo nói với người phụ nữ cầm chổi rằng họ đã mở gian sau và đặt sổ lại. Ông đứng ở gian chính vẫn giữ tập giấy có hai chữ *giếng làng*. Hắn nhìn tờ giấy ấy thêm một lần. Có thể khi bàn tay dịch ra, họ sẽ đọc được nhiều hơn; cũng có thể những trang rời trong gian sau đã chứa điều họ cần. Hôm nay họ mới tìm được một mục.
Trở về nhà bà Mạnh, Bảo trải bản chép cạnh hình rãnh giếng. Thanh Nghi đọc dòng *không động chân thành*, rồi hỏi hai người đã tìm thấy ai trong gian sau không. Bảo đáp không, và kể rõ quyển sổ được để lại trên bàn, cửa đã khóa, chìa treo sau cột hiên.
Ngoài hiên, Ô Kê nghe tiếng hắn liền gõ vào nan lồng. Bảo lấy nước cho nó, kể hôm nay mình tới từ đường. Hắn không biết con gà có từng theo mình tới đó khi còn bé hay không. Nó uống vài ngụm, rồi lại nhìn về phía giếng.
Trong nhà, Bảo nói với bà Mạnh về người phụ nữ cầm chổi, người đàn ông giữ giấy và dòng ghi sửa rãnh. Chiếc bánh bà vừa đặt xuống vẫn nằm trên bàn. Hắn ngồi cạnh, đặt bản chép lên ghế bên dưới lá thư, rồi bắt đầu kể từ lúc Hổ tìm thấy chiếc chìa khóa sau cột hiên.