Chương 347: Dòng Ghi Sau Ngày Sửa Giếng
Tạ Tiểu Bảo trải bản chép từ quyển sổ ở từ đường lên ghế, lấy hòn đá nhỏ chặn một góc.
Dòng chữ về việc sửa rãnh hiện rõ dưới nắng sớm: *Mở đầu rãnh phía ngoài, không động chân thành.* Phía dưới là những khoản vật liệu hắn chép được. Tên người thợ bị nhòe một phần; hôm qua hắn để trống đúng chỗ mất chữ.
“Con muốn mang bản này hỏi ông Cẩn,” hắn nói.
Thanh Nghi đang kiểm túi thuốc giúp Dư An. “Ông ấy bảo sẽ hỏi người từng làm cùng cha. Nếu chưa gặp lại, chúng ta có thể nhờ ông Thuận chuyển lời.”
Bảo gật đầu. Hắn không định đem quyển sổ khỏi từ đường. Hôm qua họ đã khóa cửa sau và treo chìa ở cột hiên như cũ. Nhưng có một điều hắn quên: phía sau mục sửa rãnh còn một trang ghi chữ rất nhỏ. Khi ấy ánh sáng không đủ, hắn đã đánh dấu vị trí quyển sổ rồi để lại. Bây giờ hắn muốn xem trang đó.
Dư An đặt túi thuốc xuống. “Ta đi cùng cháu. Hổ và Thanh Nghi ở đây.”
“Con có thể tự đi với Hổ.”
“Ta muốn xem lại người đàn ông đang cầm tập giấy ở gian trước. Lần hôm qua tay ông ấy còn ấm, nhưng ta chưa nhìn kỹ chỗ đứng của ông.”
Bảo nghe vậy không tranh. Hắn thay nước cho Ô Kê, nói mình sẽ tới từ đường rồi về. Con gà gõ vào nan lồng. Hắn đặt mấy hạt thóc ở góc máng, thấy nó ăn mới quay vào chào bà Mạnh.
Chiếc bánh bà đặt xuống vẫn nằm trên bàn. Bàn tay bà đã rời chiếc bánh, một tay hướng về phía phần bột còn lại. Bảo không dịch chiếc ghế chặn thư; hắn cúi nói hôm nay mình sẽ đọc tiếp quyển sổ rồi kể bà nghe.
Đường tới từ đường đi ngang giếng. Người giữ dây gàu vẫn ở đó. Bảo nhìn vết sứt trên thành giếng, chào bác, rồi không dừng lại đo. Hắn muốn tới từ đường lúc nắng còn rọi qua ô cửa gian sau.
Người phụ nữ cầm chổi vẫn đứng cạnh bậc hiên. Hắn gọi bà một tiếng, nói mình trở lại xem sổ như hôm qua. Dư An nhìn mái hiên và chỗ bà đứng; sau cơn gió, một đầu tấm che gần cửa bị lật lên. Ông kéo nó xuống cho nước không tạt vào bậc nếu trời mưa, rồi theo Bảo vào gian chính.
Người đàn ông vẫn giữ tập giấy buộc dây. Dư An quan sát tay ông và khoảng trống dưới chân. Bảo đi vòng tới mép bàn. Hai chữ *giếng làng* còn lộ ra dưới ngón tay; con số ở dòng dưới vẫn chưa đọc đủ.
“Có vẻ giấy đã dịch đi rất ít,” Dư An nói. “Ta không có bản vẽ vị trí hôm qua nên chưa chắc.”
“Con có thể vẽ bây giờ.”
Ông đưa giấy cho hắn. Bảo định vẽ cả bàn tay và tập giấy, rồi thấy nét chì của mình khó giữ được đúng khoảng cách nhỏ. Hắn đổi cách: viết những chữ đã đọc được, ghi vị trí chúng nằm ở mép nào và phần nào bị tay che. Dư An xem lại, bảo như vậy có thể dùng để so khi giấy lộ thêm.
Họ nói với hai người ở từ đường rằng sẽ mở gian sau để xem tiếp sổ, rồi lấy chìa ở cột hiên. Ổ khóa lần này xoay ngay. Bảo mở cửa, ánh sáng từ ô cửa cao rọi xuống bàn. Quyển sổ vẫn ở chỗ hôm trước, mảnh giấy hắn để cạnh bìa không bị xê dịch.
Bảo rửa tay bằng ít nước mang theo, chờ khô rồi mở sổ. Trang sửa rãnh còn đúng chỗ hắn nhớ. Dư An nhắc hắn đọc lại ngày và khoản vật liệu trước khi sang trang; nếu sau đó hỏi ông Cẩn, người thợ cần những chi tiết ấy để so với trí nhớ.
Hắn chép thêm ngày ghi ở đầu trang. Mực ở số cuối hơi nhòe; hắn viết hai khả năng cạnh nhau. Phần tên người thợ vẫn chỉ đọc được vài nét. Hắn không nối chúng thành một tên.
Trang sau mỏng hơn, có chỗ dính vào mép bìa. Bảo định kéo, Dư An bảo hắn đỡ phần giấy bên dưới. Họ tách rất chậm, không làm rách. Một bảng có nhiều cột hiện ra; cột đầu ghi ngày, cột thứ hai ghi việc, những cột còn lại có chữ nhỏ đã mờ.
Bảo cúi gần ô cửa. Một dòng ghi: *Sau khi sửa rãnh, kiểm lối gió*. Dòng kế tiếp có hai chữ *phòng trực*, rồi một khoảng bị mực nhòe. Ở cột cuối là một dấu tròn, bên trong có nét ngắn.
“Lối gió?” hắn đọc thành tiếng.
Dư An nhìn cùng. “Ta thấy chữ đó. Nhưng trang này không nói rõ lối gió ở đâu.”
“Còn phòng trực?”
“Cũng chưa có vị trí trên dòng này.”
Bảo đặt bản chép cạnh sổ. Hắn nhớ ông Cẩn nhìn thấy đường đục trên mặt đá trong rãnh, cùng mấy hạt sẫm có thể là muội hoặc bụi than. Nếu có một lối gió gần giếng, nó có thể liên quan tới rãnh. Nhưng dòng chữ chỉ nối việc kiểm lối gió với lần sửa rãnh; nó chưa nói lối ấy dẫn tới đâu.
Hắn muốn lật thêm. Dư An giúp giữ mép sổ; hai trang tiếp theo ghi việc mua dầu và thay một thanh gỗ ở mái. Trang sau nữa có tên vài người và những giờ được viết thành từng hàng. Một hàng ghi tên Mạnh, phía sau là một nét mực kéo dài tới cột cuối.
Bảo nhìn chằm chằm. “Bà Mạnh?”
“Có thể là bà,” Dư An nói. “Nhưng ở đây chỉ ghi tên Mạnh, không có thêm tên khác.”
Hắn nhìn những hàng trên và dưới. Có tên người hắn từng nghe trong làng, có tên hắn không nhận ra. Bảng không ghi rõ họ đang trực việc gì ở phần đầu trang. Ở một góc, chữ *ca* hiện khá rõ, chữ tiếp theo bị che bởi vết nước.
Bảo chép cả hàng có tên Mạnh và những dòng đầu cột đọc được. Hắn thêm dấu hỏi cạnh tên, ghi ngày trên trang nếu có; nhưng trang ấy không ghi ngày rõ ràng. Hắn thấy bực vì những khoảng trống, rồi nhớ ông Cẩn đã dặn không nối phần bị che thành điều mình muốn thấy.
“Bà làm bánh cả ngày. Bà còn phải trực việc gì nữa?” hắn hỏi.
“Ta chưa biết người ghi tên Mạnh ở đây có phải bà ấy không, và nếu đúng thì đó là việc khi nào.” Dư An nhìn tập giấy. “Cháu có thể hỏi bà. Ta cũng có thể đem bản chép cho ông Cẩn xem phần lối gió.”
Bảo ngồi yên. Hắn nhớ những lần người lớn tới từ đường, từng thấy bà Mạnh mang một chiếc rổ vào sân, nhưng không nhớ bên trong là bánh hay thứ khác. Hắn đã đi khỏi làng nhiều ngày, đã qua những nơi có bếp cũ và người giữ lửa; bây giờ cái tên trên giấy khiến những việc ấy ở gần nhà hơn.
Ngoài cửa có tiếng chân. Hổ đứng ở gian trước, gọi vào rằng Thanh Nghi nhờ anh tới báo: một góc mái che bà cụ vườn rau bị gió kéo lệch, nàng đang giữ, cần thêm dây. Bảo đặt bút xuống. Dư An nhờ Hổ nói rõ bà cụ có bị mưa hay vật gì chạm vào không; anh đáp chưa, chỉ là dây lỏng.
“Ta với Hổ đi trước,” Dư An nói. “Cháu ở đây một mình không?”
Bảo nhìn quyển sổ đang mở. “Con gấp lại, đi cùng. Con muốn giúp buộc dây.”
Hắn đánh dấu trang vừa xem bằng mảnh giấy riêng, không ghi lên sổ cũ. Hắn đặt quyển sổ lại đúng chỗ, khóa cửa sau, cùng Hổ treo chìa lên cột. Trước khi đi, hắn báo với người phụ nữ cầm chổi và người đàn ông giữ tập giấy rằng mình đã đọc thêm một trang, sẽ trở lại nếu cần.
Ở vườn rau, Thanh Nghi đang giữ mép vải. Gió thổi mạnh hơn sáng, sợi dây buộc vào cọc sau bị trượt xuống. Hổ vòng dây qua chỗ chắc hơn; Bảo giữ cọc và nhờ ông Thuận chỉ cách thắt mà mình nhớ từ hôm ông giúp. Nút đầu tiên hắn làm chưa chặt, Hổ chỉ hắn luồn lại. Lần sau mép vải đứng vững.
Bà cụ vẫn ấm. Chiếc lá ở mép rổ đã nghiêng thêm, nhưng gió vừa chạm vào rổ nên Bảo không nói đó là do tay bà cử động. Hắn kể cho bà nghe họ vừa buộc lại mái rồi về nhà bà Mạnh cùng mọi người.
Trong nhà, Thanh Nghi xem bản chép. Nàng đọc dòng *sau khi sửa rãnh, kiểm lối gió*, rồi nhìn hình mặt đá trong rãnh. Hổ đặt cuộn dây xuống, hỏi phòng trực là gì.
“Trên giấy chỉ có hai chữ ấy,” Bảo đáp. “Có bảng ghi ca, có tên Mạnh, nhưng không biết chắc là bà.”
Thanh Nghi chỉ một cột trên bản chép. “Ở những bếp cũ chúng ta từng thấy, người giữ lửa cũng có ca. Nhưng chữ này chưa cho biết họ trực ở đâu hay trực việc gì.”
Bảo nhìn bà Mạnh. Hắn muốn hỏi ngay bà có từng tới phòng trực không, rồi lại nhớ chiếc bánh bà phải mất rất lâu mới đặt xuống. Hắn kéo ghế ngồi ở nơi bà có thể nhìn thấy nếu ngẩng lên.
“Bà, hôm nay con đọc được tên Mạnh trong sổ từ đường. Con chưa biết đó có phải tên bà không. Có một dòng nhắc tới lối gió sau khi sửa rãnh.”
Hắn dừng lại, nhìn bàn tay bà hướng về phần bột. “Nếu bà biết, sau này bà kể cho con nhé.”
Ô Kê gõ vào nan lồng ngoài hiên. Hổ ra thay nước cho nó. Thanh Nghi gấp bản chép, để cùng hình rãnh giếng và mảnh vải có những hạt sẫm. Dư An ghi lại tên những ngôi nhà nhóm đã ghé, đánh dấu việc cần mang thêm dây tới vườn rau.
Bảo lấy lá thư dành cho bà, viết thêm một dòng về từ đường. Hắn chừa chỗ sau chữ Mạnh, đặt một dấu hỏi, rồi gấp thư. Hôm qua hắn đã nhìn thấy một mặt đá dưới rãnh; hôm nay hắn đọc được hai chữ *phòng trực*. Giữa chúng còn một khoảng trống, nhưng lần này khoảng trống đã có một nơi để tìm tiếp.