Chương 350: Những Bậc Đá Sau Tấm Chắn
Tạ Tiểu Bảo thức dậy khi ngoài hiên còn tối.
Hắn ngồi dậy, nhớ ngay tới bậc đá đã nhìn qua khe. Hôm qua ông Cẩn hứa sáng nay tới xem tiếp. Bảo muốn ra từ đường trước để chờ, nhưng nhìn sang bàn thấy Dư An còn thức cạnh bà Mạnh, hắn lại kéo khăn khỏi vai, đi rót nước cho ông.
“Cháu ngủ được không?” Dư An hỏi.
“Con mơ thấy mình xuống dưới.”
“Có mấy bậc?”
“Con chưa đếm. Con vừa bước thì tỉnh.”
Dư An nhận bát nước, nhấp một ngụm. Trên bàn, chiếc bánh bà Mạnh đã đặt xuống vẫn nằm nghiêng. Hai bàn tay bà hơi gần phần bột đậy khăn hơn hôm trước, nhưng chưa chạm vào. Bảo ngồi cạnh bà một lúc, kể giấc mơ rất ngắn của mình, rồi ra hiên giúp Hổ chuẩn bị.
Họ mang hai chiếc đèn, dầu, dây, nước và ít lương khô. Hổ thêm một thanh gỗ ngắn để đỡ tấm chắn nếu ông Cẩn cần. Thanh Nghi cuộn mảnh vải sạch, đặt cạnh bản vẽ bậc đá. Không ai biết phía sau có bao nhiêu chỗ tối; họ không định mang cả sọt nồi đi, nhưng đã bàn giữ đường về nhà bà Mạnh thông suốt.
Bảo nhìn lồng Ô Kê. Hôm qua hắn đã nói sẽ bàn cách đưa nó theo. Hắn hỏi Dư An nếu con gà ở cạnh tấm chắn thì có vướng việc không. Ông đáp còn phải xem ông Cẩn sắp xếp chỗ đứng, nhưng có thể mang lồng tới từ đường và đặt ngoài gian sau.
“Ngươi nghe chưa?” Bảo ngồi xuống cạnh lồng. “Được đi cùng. Nhưng khi ta mở cửa, ngươi phải chờ.”
Ô Kê mổ vào nan. Hắn coi đó là câu trả lời, bổ sung nước và thóc. Hổ giúp đặt lồng lên lưng Xám, kiểm nút cửa mới buộc hôm trước; lần này đầu dây được giữ ở phía ngoài. Con la đứng yên, chỉ giật tai khi con gà đập cánh.
Ông Cẩn tới cùng ông Thuận lúc nắng chạm hàng rào. Người thợ mang thêm nêm gỗ và một đoạn dây bện. Ông Thuận mang hai chiếc giỏ rỗng, nói nếu cần chuyển đồ ra khỏi lối thì sẽ có chỗ đặt. Dư An nghe họ bàn, bảo ông sẽ ở lại với bà Mạnh. Trước khi đi, Bảo nhắc ông chiếc bát nước ở cạnh ghế và lá thư dưới bát sạch. Ông bảo đã biết, rồi đẩy hắn ra hiên ăn nốt miếng bánh sáng.
Từ đường có người phụ nữ cầm chổi ở bậc hiên và người đàn ông giữ tập giấy trong gian chính. Bảo chào hai người, kể hôm nay ông Cẩn trở lại xem tấm chắn. Tập giấy trong tay người đàn ông lộ thêm một đoạn mép, nhưng dòng dưới chữ *giếng làng* vẫn chưa đủ để đọc.
Hổ mở cửa gian sau bằng chìa treo ở cột hiên. Dải vải anh đặt gần mép tấm chắn chiều qua vẫn ở đó, đang lay nhẹ. Ông Cẩn ngồi xuống xem vải, hỏi anh đã ghi lúc đặt và lúc rời đi chưa. Hổ đưa mảnh giấy: cả hai lần gió chỉ lay nhẹ. Chuyện đêm qua thì anh không biết vì không ở từ đường.
“Ta xem chốt trên trước,” ông Cẩn nói.
Ông đặt đèn ở chỗ chắc, mở ô cửa cao như hôm qua rồi kiểm thanh gỗ ngang. Chốt trên không bị kẹt như chốt dưới, nhưng một đầu thanh có vết nứt. Ông cho Hổ giữ thanh trong khi mình tháo chốt dưới. Tiếng kim loại khẽ chạm mảnh vải khi nó được đặt xuống.
Bảo đứng gần cửa, trong tay là sợi dây có nút đánh dấu. Hắn đã buộc sẵn để nếu được phép đi xuống, người ở trên có thể biết dây còn đủ. Ông Cẩn nhìn, hỏi hắn định buộc dây vào đâu. Bảo chỉ cột hiên; người thợ lắc đầu, nói cột ấy quá xa góc cửa, dây kéo chéo có thể vướng tấm chắn. Hắn không buồn giấu vẻ thất vọng.
“Ta có thể giữ đầu dây,” Hổ nói.
“Trước hết ta xem chốt trên và khung.” Ông Cẩn đưa tay lên thanh ngang. “Bảo, giữ đèn cho ta.”
Lần này hắn đặt đèn lên ghế như hôm qua, không cầm bằng tay. Ông Cẩn tháo chốt trên, chèn thanh gỗ ngắn để đỡ cạnh tấm chắn. Hổ giữ phía dưới. Khi hai thanh ngang không còn ép sát, người thợ thử kéo tấm gỗ về phía mình. Nó nhích ra, để lộ khe đủ rộng cho chiếc gương.
Không có vật gì rơi xuống. Một luồng khí mát đi qua khe, làm ngọn đèn nghiêng. Thanh Nghi để ý dải vải không bị thổi mạnh hơn, nhưng vẫn kéo đèn ra xa cửa.
Ông Cẩn xoay gương vào trong. Ánh sáng cho thấy bậc đá hôm trước và một bậc thứ hai thấp hơn. Phía dưới nữa vẫn tối. Ông dùng thanh gỗ chạm nhẹ vào mép bậc đầu, không đứng lên đó; bậc không xê dịch. Ông nhìn khung cửa, thấy tấm chắn được giữ bởi hai chốt họ vừa tháo và một mấu ở cạnh trái.
“Mấu này là trục,” ông nói. “Tấm chắn có thể mở sang bên, không cần nhấc lên.”
“Con giữ bên này,” Hổ nói.
Hai người đỡ tấm gỗ. Ông Cẩn xoay chậm theo trục. Mép dưới cọ nền, để lại một đường bụi. Tấm chắn mở được gần nửa vòng rồi dừng; phía sau không có vật gì chặn, nhưng trục gỗ kêu một tiếng khô. Ông đặt nêm giữ, bảo không mở thêm.
Bảo nhìn xuống. Hai bậc đá dẫn tới một khoảng nền thấp, hẹp nhưng đủ cho một người đứng. Phía trong có một cánh cửa khác bằng đá hoặc gỗ đã phủ bụi; ánh đèn chưa tới rõ. Trên tường bên phải có một lỗ nhỏ, gió từ đó thổi ra, mang theo mùi đất và mùi khô hắn đã ngửi hôm qua.
“Con có thể xuống bậc đầu không?”
Ông Cẩn nhìn Hổ, rồi nhìn nền. “Để ta thử trước.”
Người thợ đặt chân lên bậc, giữ tay vào khung. Ông dồn sức chậm, thử thêm bậc thứ hai, rồi đứng trên khoảng nền thấp. Ông không đi tiếp tới cánh cửa trong. Ông nhìn lên, bảo nền dưới chân có vẻ chắc, nhưng tường và phần sâu chưa được kiểm.
Bảo đứng sát ngưỡng, thấy đường bụi trên mép bậc. “Để con đưa đèn.”
Hổ cầm đèn xuống cho ông Cẩn. Từ ánh sáng ấy, Bảo nhìn rõ cánh cửa phía trong bằng gỗ sẫm, giữa cửa có một tay nắm bằng kim loại. Trên nền cạnh cửa là một cái bát nhỏ úp ngược. Không có người đứng hay nằm trong khoảng nhìn thấy.
Thanh Nghi cúi xuống. “Tay nắm phía trong mà ông Diệp nhớ có thể là cái này.”
“Có thể,” ông Cẩn đáp. “Ta chưa thử mở.”
Bảo không muốn nhìn từ trên mãi. Hắn hỏi lần nữa. Dưới sự đồng ý của người thợ, Hổ đứng ở ngưỡng, nắm một đầu dây; Bảo buộc đầu kia quanh người, rồi bước xuống hai bậc. Đá lạnh dưới đế giày. Hắn chạm đất thấp, ngẩng lên thấy Hổ vẫn ở ngay trên, Thanh Nghi giữ chiếc đèn thứ hai phía sau.
Khoảng tối không nuốt mất hắn như trong giấc mơ. Có một bậc, rồi một bậc nữa, rồi nền. Hắn đã xuống tới đây.
Cái bát úp trên nền nhỏ hơn bát ăn cơm của người lớn. Mép bát có một vết sứt. Bảo nhớ chiếc bát hắn tìm được trong giỏ ở nhà mình, nhưng vết sứt là điều rất nhiều chiếc bát có thể cùng có. Hắn không nhấc bát lên.
Ông Cẩn đưa đèn tới gần cửa trong. Tay nắm không khóa bên ngoài. Mép cửa áp vào khung; dưới chân có một khe thấp. Gió không đi qua khe ấy rõ như từ lỗ trên tường. Ông thử lay nhẹ tay nắm, cửa không nhúc nhích.
“Có thể bị chốt từ trong,” ông nói. “Cũng có thể gỗ nở.”
Bảo đặt bàn tay gần mặt cửa nhưng không chạm. Hắn nhìn thấy một nét khắc nông ở khoảng ngang vai người lớn. Đó là một đường cong ngắn, một đầu bị vệt đen che. Hắn lấy bản chép từ túi, đối chiếu; phần nhìn thấy chưa đủ ghép thành dấu đã chép ở Thái Huyền.
“Chúng ta đã thấy lối xuống,” Thanh Nghi nói từ trên. “Giờ báo cho Dư An trước đã?”
Bảo muốn ở lại mở tiếp. Nhưng họ chưa biết cửa giữ bằng gì, ông Cẩn cũng mới chỉ kiểm được hai bậc và khoảng nền. Hắn hỏi người thợ có thể trở lại chiều nay không. Ông đáp còn một việc đã nhận ở nhà, sáng mai có thể tới, mang theo người giúp đỡ tấm chắn nếu cần.
Bảo ngẩng nhìn khoảng sáng trên đầu. “Nếu phía trong có người thì sao?”
Hổ lập tức gọi lớn qua cửa: “Có ai ở trong không? Chúng ta ở phía ngoài!”
Tiếng anh dội vào khoảng hẹp rồi im. Ông Cẩn cũng gọi, ghé tai nghe; không có tiếng đáp rõ. Dưới cửa không thấy nước tràn ra, không có dấu khói mới. Điều đó không chứng minh bên trong không có ai, nhưng họ chưa có cách mở ngay mà không làm hỏng cửa.
Bảo đặt bàn tay lên mặt gỗ. “Nếu có ai ở trong, chúng tôi sẽ quay lại.”
Hắn lùi ra, bước lên hai bậc. Hổ đỡ khuỷu tay hắn ở bậc cuối. Hắn tháo dây, nhường chỗ cho ông Cẩn lên sau. Người thợ ghi lại tình trạng cửa trong, tay nắm, cái bát và lỗ gió. Thanh Nghi vẽ hai bậc cùng khoảng nền, để trống phần chưa thấy.
Họ khép tấm chắn lại. Ông Cẩn đưa mấu về đúng chỗ, Hổ giữ thanh ngang, rồi hai chốt được lắp theo thứ tự người thợ đã ghi. Ông thử chúng, không ép quá chặt cái chốt dưới vừa sửa. Tấm gỗ nằm sát khung như trước, chỉ để lại khe nhỏ có dải vải lay.
Trước khi rời gian sau, Bảo nhìn quyển sổ trên bàn. Hắn muốn tìm xem trang ghi phòng trực có nói tới cánh cửa trong hay không. Thanh Nghi hẹn chiều quay lại đọc tiếp, còn bây giờ họ phải báo Dư An và ăn. Hắn đậy túi giấy, khóa cửa, treo chìa sau cột hiên.
Ngoài sân, Ô Kê đứng trong lồng trên lưng Xám. Từ chỗ ấy nó không thể nhìn vào gian sau. Bảo tới cạnh, kể mình đã xuống hai bậc, thấy một cánh cửa và một cái bát. Con gà nghiêng đầu, mổ vào đầu dây cửa. Hắn giữ dây, đưa nó chút nước.
“Ta chưa đi sâu,” hắn nói. “Sáng mai ông Cẩn tới, chúng ta xem tiếp.”
Ông Thuận tiễn người thợ ra ngã chia. Bảo cùng Hổ và Thanh Nghi về nhà bà Mạnh. Dư An nghe họ kể, xem bản vẽ và hỏi có ai khó thở khi xuống không. Bảo đáp mình chỉ ở dưới một lúc, không thấy khó chịu; ông Cẩn cũng không nói có gì bất thường. Dư An bảo khi đi sâu hơn phải có người quan sát đường về, không để một người ở lại phía dưới một mình.
Bảo kể cho bà Mạnh nghe từ lúc cái chốt dưới rời khỏi lỗ tới lúc cánh cửa trong không mở. Hắn đặt chiếc bát sạch dành cho bà về chỗ cũ, rồi viết thêm vào thư: *Hôm nay con xuống hai bậc ở từ đường. Chúng con sẽ quay lại.*
Hắn nhìn bàn tay bà gần phần bột, rồi nhìn bản vẽ đặt cạnh thư. Lần này trên giấy không chỉ có một đường cong hay một dấu hỏi. Có hai bậc đá, một khoảng nền và một cánh cửa mà hắn đã đứng ngay trước mặt.