Chương 353: Tên Người Nhận Ca
Đêm ấy, Tạ Tiểu Bảo không ngủ được.
Mưa lúc đầu chỉ lách tách trên mái, về sau nặng hạt hơn. Hắn ngồi cạnh cửa, nhìn nước chảy khỏi đầu hiên, trong tay là bản chép từ quyển sổ dưới từ đường. Ở một hàng có tên Mạnh; một hàng khác đặt một ngày cạnh tên một mùa.
Hắn đọc hai hàng ấy tới lần thứ ba thì Dư An nói:
“Cháu thuộc rồi.”
“Con sợ sáng mai lại nhớ sai.”
“Vậy giấy giúp cháu giữ chỗ chưa nhớ. Cháu không phải thức để giữ nó.”
Bảo gấp giấy, đặt cạnh lá thư dành cho bà Mạnh. Hắn nhìn bà. Chiếc bánh đã đặt xuống, tay bà hướng về phần bột nhưng chưa chạm vào. Nếu quyển sổ nói đúng về nhịp trong và ngoài, bà có thể chỉ vừa qua một quãng rất ngắn, trong khi hắn đã ăn nhiều bữa, gặp ông Cẩn và đi xuống căn phòng sau tấm chắn.
“Con đã kể nhiều chuyện như thế,” hắn nói. “Nếu bà nghe chậm, có khi con kể nhanh quá.”
Dư An nhìn hắn, không cười. “Ta chưa biết bà nghe thế nào. Cháu có thể kể một chuyện, rồi để bà có thời gian.”
Bảo kéo ghế lại, kể về chiếc bàn dưới từ đường. Hắn nói trên bàn có một cái đèn tắt, một miếng đá chặn giấy và quyển sổ. Hắn không đọc lại cả trang; chỉ kể hôm nay nhóm đã mở được cửa và để thanh gài ở phía ngoài, để người tới sau biết phải đặt lại.
Kể xong, hắn ngồi im. Mưa vẫn rơi, nhưng hắn không vội kể chuyện khác. Dư An đẩy bát nước tới gần. Bảo uống, rồi để hai tay trên đầu gối, chờ cho tới khi tiếng mưa nhỏ dần.
Sáng ra, Hổ cùng Thanh Nghi đi kiểm mái che ngoài vườn rau. Tấm vải bị nước đọng ở một góc, nhưng cọc ông Thuận giúp buộc vẫn đứng vững. Hổ tháo một đầu dây, cho nước chảy ra ngoài rãnh rồi buộc lại. Khi hai người về, Bảo đang trải bản chép trên ghế.
“Con muốn xem tiếp quyển sổ dưới từ đường,” hắn nói. “Trang có tên ở cuối còn bị gập vào gáy.”
Thanh Nghi hỏi hắn muốn tìm gì ở trang đó. Bảo chỉ hàng ghi *ca còn lại*. “Nếu người nhận là bà, có thể tên đầy đủ ở chỗ bị che.”
Dư An bảo ông muốn đi cùng. Ông đã xem bản chép, nhưng chưa tự nhìn quyển sổ trong căn phòng. Hổ nhận ở lại trông bà Mạnh, Ô Kê và Xám. Trước khi đi, Bảo lấy đèn, dầu và một mảnh giấy khô. Hắn nói với Hổ nếu bà Mạnh đặt tay tới phần bột thì không cần chạy tìm hắn ngay, chỉ ghi lại lúc thấy; chiều họ sẽ quay về.
“Ta biết rồi,” Hổ nói. “Ngươi cũng phải ăn giữa đường.”
Từ đường còn ẩm sau mưa. Người phụ nữ cầm chổi đứng dưới mái hiên, người đàn ông giữ tập giấy trong gian chính. Bảo chào cả hai, kể rằng họ trở lại xem sổ ở phòng dưới. Thanh Nghi lấy chìa ở cột hiên, mở gian sau; cái chốt được ông Cẩn sửa vẫn xoay được.
Họ không tự mở tấm chắn. Ông Cẩn đã hẹn sẽ cùng xem tiếp sau khi hỏi người từng sửa rãnh. Dư An muốn đọc những trang ở quyển sổ trên bàn gian sau trong lúc đợi ông. Bảo hơi thất vọng, nhưng hắn cũng nhớ phần tên Mạnh ở đây có thể giúp đối chiếu với sổ bên dưới.
Hắn mở quyển sổ đúng trang đã đánh dấu. Bảng ghi ca có tên Mạnh, phần đầu trang không rõ việc trực. Dư An đưa giấy tới gần ô cửa cao, không để nắng chiếu trực tiếp quá lâu lên trang mỏng. Ông đọc các hàng trước và sau.
“Hàng này ghi người giao ca,” ông chỉ. “Hàng Mạnh là người nhận. Cột cuối có một dấu, giống nét trên tờ giấy ở phòng dưới mà cháu vẽ lại.”
Bảo đưa bản chép của mình. Trên giấy hắn vẽ một vòng tròn có chấm giữa; dấu ở đây bị nếp gấp cắt qua, nhưng phần nhìn rõ có một đoạn tròn và một chấm sẫm. Hắn so hai hình, rồi ngước nhìn Dư An.
“Có phải cùng một ca không?”
“Có thể là cùng cách đánh dấu. Ta chưa biết hai trang được ghi cùng ngày hay cách nhau bao lâu.”
Hắn chép những hàng còn đọc được. Trong số tên phía trên có một người ghi kèm chữ *thợ rèn*; Bảo không thấy tên Hàn Luyện ở phần rõ. Hắn nhìn lại cột cuối, muốn tìm thêm một dấu giống trên tờ giấy kia, thì ngoài sân vang lên tiếng người gọi.
Ông Thuận tới cùng ông Cẩn. Người thợ mang theo một cuộn giấy buộc vải dầu. Ông kể đã hỏi ông Diệp về căn phòng. Người cũ không từng vào trong, nhưng nhớ người giữ chìa có một chiếc túi vải đựng giấy nhận ca. Ông Diệp đã tìm trong đồ cũ, thấy một mảnh giấy do cha ông Cẩn giao lúc sửa rãnh; ông nhờ mang tới để đối chiếu ngày.
Bảo đón hai người vào gian sau. Ông Cẩn mở cuộn giấy trên chiếc ghế. Mảnh giấy cũ ghi tiền cát, đá và công làm rãnh. Ở đầu có ngày; số cuối rõ hơn số bị nhòe trong quyển sổ. Bảo đem hai bản đặt gần nhau. Những khoản vật liệu khớp, tên người nhận ở cuối cũng có các nét còn đọc được giống nhau.
“Ta nghĩ đây là cùng việc sửa rãnh,” ông Cẩn nói. “Ngày cũng gần với điều cha ta kể.”
Bảo chép ngày rõ vào sổ mình, bên cạnh hai khả năng hôm qua. Hắn gạch một khả năng không khớp, nhưng giữ lại ghi chú rằng số trong quyển sổ gốc bị nhòe. Ông Cẩn xem rồi bảo được.
“Còn người giữ chìa?” Bảo hỏi.
“Ông Diệp chỉ nhớ người ấy mang túi vải, không nhớ tên. Ta không thể từ tờ này biết là ai.”
Dư An nói với ông Cẩn về trang *ca còn lại* ở quyển sổ dưới phòng. Người thợ gật đầu, bảo hôm nay có thể xuống xem thêm. Ông Thuận ở ngoài trông cửa, Thanh Nghi giữ đèn, còn ông Cẩn và Bảo xuống; Dư An đứng trên bậc để cả nhóm không chen trong phòng hẹp.
Họ tháo chốt dưới và chốt trên, xoay tấm chắn trên mấu. Hổ hôm trước đã chèn cửa trong từ phía ngoài, không gài thanh gỗ ở trong lại; ông Cẩn nhấc miếng chèn, mở cửa đủ cho một người qua. Bảo cúi đầu bước vào. Chiếc bàn, cái đèn tắt và quyển sổ vẫn ở chỗ cũ.
Hắn nhấc miếng đá chặn giấy, mở quyển sổ tại trang đã ghi. Thanh Nghi xuống cạnh, giữ ánh đèn. Phần tên ở cuối trang nằm sâu trong gáy; Dư An từ bậc trên đưa họ một mảnh bìa mỏng để đỡ mép giấy, không kéo mạnh.
Lần này, hai chữ lộ ra: *bà Mạnh*. Bên cạnh còn một dòng nhỏ hơn: *người làm bánh ở ngõ giếng*.
Bảo đọc rất khẽ. Hắn lại đọc lần nữa, lần này đủ to để Dư An nghe.
“Bà Mạnh... người làm bánh.”
Thanh Nghi nhìn dòng chữ, rồi nhìn hắn. Không cần đặt thêm dấu hỏi ở cái tên này: người viết đã ghi cả cách nhận biết. Nhưng trang sổ vẫn không cho biết bà Mạnh bắt đầu ca ấy lúc nào hay vì sao bây giờ bà đang nặn bánh trong nhà.
Bảo ngồi xuống chiếc ghế nhỏ Hổ mang tới hôm trước. Hắn nhớ bà hỏi đã rửa tay chưa, nhớ chiếc bánh vừa rơi xuống bàn, nhớ tấm tạp dề xám ông Lộc nhận ra. Tất cả những điều ấy đều thuộc về một người hắn biết; bây giờ trong quyển sổ dưới từ đường còn có một công việc hắn chưa từng nghe bà kể.
“Bà giữ ca ở đây?” hắn hỏi.
“Trang này ghi ca còn lại và tên bà,” Thanh Nghi nói. “Chúng ta có thể xem những trang trước để hiểu ca ấy là gì.”
Bảo chép cả dòng, đánh dấu những chữ bị khuất dù đã đọc được. Hắn không xé trang hay đem sổ đi. Khi tìm ngược lại, hắn thấy một mục nói về nước, lối gió và việc giữ lửa; một mục khác yêu cầu người nhận ca ghi tên trước khi người cũ rời phòng. Nét mực ở cuối mục đó nhòe, nhưng cụm *người nhận* còn rõ.
Dư An hỏi: “Có tên người nhận sau bà không?”
Bảo dò cột tiếp theo. Sau hàng của bà Mạnh là một dòng kẻ trống, không có tên. Hắn đưa quyển sổ cho Thanh Nghi. Nàng nhìn trang trước, trang sau rồi lắc đầu: trong phần họ vừa xem không thấy tên người nhận sau bà.
Hắn nhớ người giữ lửa ở một bếp cũ mà nhóm từng gặp, nhớ việc không ai tới nhận ca suốt một thời gian dài. Ở đây bà Mạnh vẫn còn trong làng. Nếu dòng trống này nghĩa là chưa có người nhận, bà đã phải giữ việc ấy bao lâu?
“Chúng ta có thể nhận thay bà không?” hắn hỏi.
Dư An không trả lời ngay. Ông xuống bậc, nhìn hàng trống. “Trước hết phải hiểu việc đó là gì, và tình trạng của bà bây giờ ra sao. Nhưng đây là một câu hỏi đúng.”
Ông Cẩn đang xem lỗ gió phía sau kệ. Ông phát hiện miếng vải phủ trên kệ không che kín toàn bộ; phía dưới có một cuộn dây, một chiếc đèn nhỏ khác và một bảng gỗ mỏng. Bảng có chữ, nhưng đặt ở phía sâu trong phòng. Ông không tự lấy, gọi Bảo và Thanh Nghi tới xem.
Trên bảng, dưới lớp bụi mỏng, có hai hàng: *Người trực: giữ đường gió. Người nhận: kiểm bát nước.* Bên dưới còn một hàng nữa bị vải che. Bảo nhìn về phía cửa, nhớ cái bát úp và mẩu giấy *Nước cạn thì kiểm lối gió*.
“Vậy bát ngoài cửa có thể dùng cho ca này,” hắn nói.
“Có khả năng,” Dư An đáp. “Ta cần đọc hết bảng và xem phần hướng dẫn trong sổ.”
Bảo muốn dời miếng vải, nhưng Hổ gọi từ trên bậc rằng anh cần về trông bà Mạnh. Ông Thuận đã xuống sân cùng anh để báo cho mọi người biết; họ chỉ rời nhà trong chốc lát. Hổ nhờ cả nhóm thu xếp trở lại.
“Bà vẫn ở cạnh bàn,” Hổ nói. “Chưa có thay đổi lớn mà ta thấy.”
Bảo muốn đọc tiếp ngay, nhưng biết Hổ cũng phải về trông bà. Hắn chép hai hàng trên bảng, đánh dấu hàng dưới còn bị che. Thanh Nghi giúp đặt quyển sổ, tờ giấy trắng và miếng đá lại. Ông Cẩn kiểm cửa trong, chèn phía ngoài như sáng nay; cả nhóm lên bậc, khép tấm chắn và lắp chốt.
Trên đường về, Bảo đi nhanh nhưng không chạy. Hắn giữ bản chép trong túi áo. Ở đó có tên bà Mạnh, không chỉ một chữ Mạnh đứng riêng. Trong sổ còn một dòng trống sau ca của bà; hắn muốn hỏi bà về dòng ấy, dù chưa biết phải chờ bao lâu để được trả lời.
Hắn ngồi trước bà, đọc từng câu đã chép. Đến dòng *bà Mạnh, người làm bánh ở ngõ giếng*, hắn ngẩng lên. Bà vẫn nhìn phần bột trên bàn; chiếc bánh đã nặn xong nằm bên cạnh.
“Con không biết bà phải làm việc ấy,” hắn nói. “Nếu dòng trống là chỗ người tới nhận ca, con muốn tìm xem người đó ở đâu.”
Hắn không viết tên mình vào chỗ trống. Đó là quyển sổ của người trực, và hắn còn chưa biết phải giữ gió, kiểm nước hay bàn giao thế nào. Nhưng lần đầu, việc hắn có thể làm tiếp đã rõ hơn: đọc phần còn lại, tìm cách hiểu công việc, và tìm người có thể nhận ca cùng bà.
Ngoài hiên, Ô Kê gõ vào nan lồng. Bảo quay ra, thấy Hổ đang đổ nước mới. Anh giơ chiếc bát lên hỏi hắn đã ăn chưa. Bảo lắc đầu. Hổ bảo vậy phải ăn trước khi kể tiếp; hắn gấp bản chép lại, đặt dưới chiếc bát sạch dành cho bà Mạnh, rồi đứng dậy phụ bưng nồi.