Chương 354: Bát Nước Và Đường Gió
Tạ Tiểu Bảo cầm bát cơm ngồi trước bà Mạnh, ăn hết một nửa mới mở miệng.
“Bà có từng để bát nước ngoài cửa không?”
Hắn nhớ chiếc bát úp bên dưới từ đường, mẩu giấy dặn nước cạn thì kiểm lối gió, và tấm bảng ghi người nhận ca phải kiểm bát. Trong nhà bà Mạnh có nhiều bát; riêng chiếc hắn đặt cạnh lá thư là bát của nhóm. Không cái nào tự trả lời được câu hỏi.
Hắn ăn hết phần cơm còn lại. Hổ nhận bát đi rửa, còn Thanh Nghi lấy bản chép quyển sổ ra, đặt bên cạnh hình hai bậc đá. Dư An vừa xem lại chân Bảo sau mấy ngày đi qua các ngõ; ông bảo chân đã đỡ, nhưng nếu xuống phòng lần nữa, hắn vẫn phải đi chậm ở chỗ mép cửa cọ nền.
“Con muốn đọc phần còn lại trên bảng,” Bảo nói. “Hôm qua ông Cẩn thấy có một hàng bị vải che.”
“Ta cũng muốn xem quyển sổ phía sau hàng tên bà,” Thanh Nghi đáp. “Có thể ghi việc bàn giao.”
Hổ đặt bát đã rửa lên giá. “Ngày mai ta đi cùng. Hôm qua ta chỉ xuống gọi mọi người, chưa nhìn thấy bảng.”
Dư An đồng ý ở lại với bà Mạnh. Bảo gấp các bản chép, đặt riêng mảnh giấy ghi tiền chuyển thư cho Mộc. Hắn chưa có tin lá thư tới trạm. Nếu có hồi âm, họ đã nhờ ông Lộc hoặc ông Thuận báo qua giếng ngoài; trong lúc đợi, họ vẫn có thể đọc phần người làng để lại.
Buổi sáng, ông Cẩn chưa tới khi ba người chuẩn bị xong. Họ không mở tấm chắn khi thiếu người thợ, chỉ dẫn Xám chở lồng Ô Kê và đồ dùng tới từ đường. Người phụ nữ cầm chổi vẫn đứng ở bậc hiên; người đàn ông trong gian chính vẫn giữ tập giấy. Bảo chào hai người, kể hôm qua đã đọc thấy tên bà Mạnh dưới phòng.
“Chúng cháu sẽ đợi ông Cẩn,” hắn nói. “Sau đó xem lại bảng, đặt mọi thứ về chỗ cũ.”
Hổ đặt lồng Ô Kê dưới mái, nơi con gà nhìn được một phần sân. Bảo thay nước rồi lấy hình hai bậc đá ra. Hắn chỉ cho con gà xem đường nét trên giấy, dù biết nó có thể chỉ nhìn thấy những chuyển động của tay hắn. Ô Kê mổ mép giấy, để lại một chấm nhỏ.
“Đó không phải thêm bậc.” Bảo rút giấy về. “Chỗ ấy là dấu mỏ của ngươi.”
Thanh Nghi bật cười, bảo hắn ghi chú thêm. Hắn làm thật, viết một chữ nhỏ cạnh chấm. Hổ nhìn, nói từ nay ai xem hình sẽ biết người vẽ có một con gà rất muốn tham gia.
Ông Cẩn tới trước giữa buổi, cùng Tín và ông Thuận. Ông mang thêm hai thanh gỗ, nói hôm nay sẽ kiểm lại chỗ đỡ tấm chắn và cửa trong. Họ lấy chìa ở cột hiên, mở gian sau, báo với hai người ở từ đường rồi tháo chốt như lần trước.
Tín giữ tấm chắn ngoài. Ông Cẩn xuống hai bậc, xem miếng chèn Hổ đã đặt ở cửa trong. Nó còn nguyên. Ông nhấc miếng chèn, mở cửa, rồi kiểm nền và lỗ gió trước khi để Bảo cùng Thanh Nghi vào. Hổ ở trên bậc; ông Thuận ngồi ngoài gian sau, trông lối ra và nhắc Tín nghỉ tay khi cần.
Quyển sổ, tờ giấy trắng và miếng đá chặn vẫn trên bàn. Cái đèn đã tắt, chiếc ghế ở cạnh tường. Bảo đến kệ thấp, nhìn tấm bảng còn bị phủ một phần. Lần trước họ đã đọc hai hàng: người trực giữ đường gió, người nhận kiểm bát nước. Hắn hỏi ông Cẩn có thể nhấc mép vải để xem hàng dưới không.
Người thợ kiểm mặt kệ trước. Miếng vải không buộc vào bảng, chỉ phủ lên cùng cuộn dây và chiếc đèn nhỏ. Ông nhờ Thanh Nghi giữ phần vải ngoài, rồi nhấc mép vừa đủ. Hàng thứ ba lộ ra:
*Người rời ca để lại phần chưa chia.*
Bảo đọc hai lần. “Phần gì ạ?”
Không ai trả lời ngay. Ông Cẩn nói mình không biết chữ *phần* ở đây chỉ đồ vật hay công việc. Thanh Nghi nhìn sang quyển sổ, nhắc họ từng gặp những ghi chép về chia phần ở các nơi khác. Nhưng tấm bảng này chỉ nói người rời ca phải để lại phần chưa chia, không ghi đặt ở đâu.
Bảo chép hàng chữ. Hắn nghĩ tới Nhân Gian Lô đang gói dưới hiên nhà bà Mạnh. Trên đường đi, hắn đã nghe cái nồi được gọi bằng tên ấy, đã thấy những bệ lò và những danh sách phần. Bây giờ bà Mạnh có tên trong sổ ca, còn bảng trong phòng nhắc tới phần chưa chia. Hắn muốn đem nồi tới đây ngay.
“Con có nên mang nồi xuống không?” hắn hỏi.
Thanh Nghi nhìn lỗ gió và căn phòng. “Chúng ta chưa biết bảng bảo để phần ở đâu. Đọc tiếp sổ trước đã.”
Hắn không hoàn toàn hài lòng. Nhưng nếu mang nồi xuống, hắn cũng chưa biết đặt nó vào chỗ nào. Hắn giúp nàng đặt miếng vải trở lại, chỉ để bản chép trên tờ giấy riêng.
Bảo mở sổ tại trang ghi *ca còn lại*. Dư An và Thanh Nghi hôm qua đã giúp hắn đọc được tên bà Mạnh, người làm bánh ở ngõ giếng. Hắn lần xuống dòng trống sau tên bà, rồi lật trang kế tiếp. Ở đây có một hình tròn lớn, ở giữa để trắng, quanh mép có các nét chia. Dưới hình là một dòng chữ:
*Bệ đặt nồi ở giếng. Không chặn đường nước.*
Bảo nín thở.
Hắn đưa sổ cho Thanh Nghi. Nàng đọc lại, soi thêm ánh đèn. Chữ *giếng* còn rõ, phía trước có nét bút bị đè bởi nếp giấy, nhưng cả dòng vẫn đọc được. Ông Cẩn bước tới, ngồi xuống cạnh bàn.
“Vậy người viết sổ đã gọi một chỗ ở giếng là bệ đặt nồi,” ông nói. “Ta chưa biết đó là chỗ nào trong giếng.”
Bảo nhìn hình tròn. Nó không phải bản vẽ tỉ mỉ: không ghi độ sâu, không có hướng bắc hay vị trí người giữ gàu. Nhưng dòng chữ đã nối cái bệ với giếng một cách mà vệt đen trong rãnh chưa từng làm được.
“Hôm trước con hỏi ông giếng có phải lò không,” hắn nói. “Ông bảo chưa thấy.”
“Đúng. Bây giờ ta có thêm dòng này. Ta vẫn chưa thấy bệ, nhưng biết người viết nói phải tìm ở giếng.”
Thanh Nghi chỉ cột bên cạnh hình. Có một câu ngắn: *Từ phòng trực nhìn hướng nước ra.* Dưới đó là ba vạch, một vạch bị mực phủ, không đủ thành bản đồ. Nàng chép nguyên câu và những nét nhìn thấy.
Bảo nhớ lỗ gió sau kệ, mặt đá dưới rãnh ngoài giếng và khe Ô Kê từng mổ. Ba chỗ ấy có thể nối với nhau, cũng có thể là những phần khác nhau. Hắn muốn đào cho tới khi gặp đường, nhưng bên trên nền còn người đang giữ dây gàu. Hắn nhìn ông Cẩn.
“Nếu bệ ở giếng, chúng ta xem từ đâu được?”
“Ta có thể xem hướng nước từ đầu rãnh ngoài, và nhìn quanh thành giếng. Ta không tháo nền sát chân bác giữ gàu. Nếu sổ có cách nhận biết bệ mà không mở nền, tìm dòng ấy trước.”
Bảo lật tiếp. Hai trang sau ghi lượng nước, dầu và các lần kiểm lối gió. Có một ghi chú: *Khi bát nước cạn, kiểm trước khi nhận ca.* Hắn nhớ cái bát úp cạnh cửa trong, dưới đó có mẩu giấy cùng lời dặn. Chỗ họ thấy hôm trước không có nước; quyển sổ không nói người nào đã úp bát hay vì sao.
Hắn chép câu về bệ giếng, vẽ hình tròn và ghi những chỗ bị gấp. Thanh Nghi giữ ánh đèn. Hổ xuống một bậc, nghe hắn đọc lại rồi hỏi:
“Bà Mạnh có tên ngay trước dòng trống. Nếu nhận ca phải kiểm bát nước, chúng ta làm được việc ấy không?”
“Con không biết cái bát nào,” Bảo đáp. “Cái ngoài cửa đang úp. Sổ chỉ nói bát nước, không nói chắc là nó.”
Hắn nhìn về phía cửa. Chiếc bát nhỏ đã được đặt lại trên mẩu giấy sau khi cả nhóm xem. Nếu hắn chỉ rót nước vào đó, có thể hắn đã làm đúng một bước; cũng có thể hắn làm thay đổi thứ ai đó để lại. Hắn muốn một người hiểu sổ chỉ cách, và nhớ tới lá thư gửi Mộc.
Một tiếng gọi từ trên sân làm cả nhóm ngẩng lên. Ông Thuận nói có người tới giếng ngoài hỏi đường vào làng; Tín đang tiếp ở cửa từ đường. Ông Cẩn bảo mình sẽ lên xem. Hắn và Thanh Nghi đặt quyển sổ lại trên bàn; miếng đá chặn tờ giấy trắng được để đúng chỗ. Hổ dẫn Bảo lên, để người thợ đi sau.
Người tới là ông Lộc. Ông không mang hàng hôm nay, chỉ có một túi vải nhỏ. Thấy Bảo, ông lấy ra một mảnh giấy gấp.
“Phúc đã đưa thư của cháu tới trạm. Đây là cuống người nhận ở trạm ký.”
Bảo mở giấy. Có tên Phúc, tên trạm và một nét ký phía dưới. Ông Lộc nói Phúc đã nhờ người ở trạm chuyển tiếp tới ngoại viện; anh không có tin người nhận cuối cùng đã nhận hay chưa. Bảo hỏi có tiền phát sinh không. Ông Lộc đáp đoạn tiếp theo người ở trạm nhận theo số tiền Phúc để lại; nếu có tin khác, anh sẽ nhắn.
Bảo cất mảnh giấy cạnh phần mình giữ. Hắn thấy nhẹ đi vì lá thư đã qua được một chặng, nhưng không tưởng Mộc đã đọc thư. Hắn cảm ơn ông Lộc, rồi hỏi ông có thể chờ một lát để mang thêm một bản chép về bệ giếng cho Phúc không. Ông Lộc bảo sẽ hỏi, chưa nhận thay Phúc.
Ông Cẩn và Tín đóng tấm chắn sau khi lấy đủ đồ ra. Cửa trong được chèn như trước; họ ghi lại trên giấy để người khác biết thanh gài đang ở dưới nền phía trong. Chìa được treo lại ở cột hiên. Bảo nói với người phụ nữ cầm chổi rằng họ vừa đọc một dòng về bệ đặt nồi ở giếng.
Trên đường về, ông Lộc nghe câu chuyện, hỏi có phải cái nồi Bảo mang về sẽ được đặt ở đó không. Hắn lắc đầu. “Sổ chỉ nói bệ đặt nồi ở giếng. Con chưa thấy bệ, cũng chưa biết nồi nào.”
Ông Lộc không hỏi thêm. Ông nhìn về giếng, nơi người đàn ông vẫn giữ dây gàu. Ông đặt một chiếc ghế cách bác ấy một quãng, chỗ không vướng lối, rồi nói nếu bác muốn ngồi, ghế ở đây. Bảo đã để ghế gần đó từ trước; ông Lộc chỉ kéo nó khỏi vệt nước trên sân.
Về tới nhà bà Mạnh, Bảo báo cho Dư An tin thư đã tới trạm, rồi trải bản chép dòng về bệ giếng. Dư An đọc, hỏi hình tròn có ghi kích thước hay không. Hắn đáp không; có các nét chia quanh mép nhưng không đủ để nhận ra hình trên bệ tượng hay dấu ở chân giếng.
Ông Cẩn nhận bản chép và hẹn trở lại xem rãnh khi có thể. Ông Thuận đi cùng ông, còn ông Lộc trở về đường chợ. Hổ tháo lồng Ô Kê khỏi lưng Xám. Con gà đứng sát nan, đầu hướng về giếng; Bảo thay nước cho nó rồi vào nhà.
Hắn ngồi trước bà Mạnh, đọc dòng chữ trong sổ: *Bệ đặt nồi ở giếng. Không chặn đường nước.* Hắn nói chưa biết cái bệ nằm ở đâu, cũng chưa biết đó có phải nơi bà từng giữ ca hay không.
“Nhưng lần này trong sổ có nói tới giếng,” hắn nói. “Không phải chỉ mình con đoán.”
Chiếc bánh vẫn trên bàn. Bảo đặt hình tròn cạnh lá thư, không vẽ thêm những đường chưa thấy. Ngoài hiên, Ô Kê gõ một tiếng vào máng. Hắn nhìn cái nồi đen được gói trong sọt, rồi nhìn về phía giếng qua khe cửa. Giữa hai thứ ấy, lần đầu có một dòng chữ của người trực để lại.