Chương 355: Dấu Trên Thành Giếng
Sáng hôm sau, Tạ Tiểu Bảo mang bản chép ra giếng, kẹp dưới đáy một cái rổ đựng bánh. Hắn sợ giấy bay, còn bánh là phần bà Mạnh đã làm trước khi cả nhà ăn sáng. Dư An chia mỗi người một chiếc, dặn hắn giữ lại một chiếc cho người giữ dây gàu.
Người ấy vẫn đứng sát thành giếng. Cánh tay bác hơi đổi vị trí so với hôm qua; dây gàu nay tì vào một đốt ngón khác. Bảo đặt bánh lên chiếc ghế bên cạnh, báo cho bác biết rồi mới ngồi xổm phía ngoài rãnh nước.
Ông Cẩn và Tín đã tới. Hai người mang theo thước, dây và một chiếc bàn chải nhỏ. Ông Diệp, người thợ lớn tuổi, ngồi trên bậc cửa nhà đối diện; hôm qua Cẩn đã nhờ Tín kể cho ông nghe dòng chữ trong sổ. Ông không xuống phòng trực, nhưng từng sửa mép giếng nhiều năm trước.
“Chỗ cháu chỉ hôm trước là vệt đen này phải không?” ông Cẩn hỏi.
Bảo gật đầu. Vệt nằm phía dưới một viên đá ngoài rãnh, nơi nước tràn có thể chảy qua khi đầy. Lần trước họ chỉ nhìn được mép đá, chưa nhấc lên. Hắn trải bản chép ra nền khô, chỉ hình tròn trong sổ và câu nói về bệ đặt nồi.
Ông Diệp nghiêng người xem rất lâu. Ông đưa một ngón tay tới gần mép giấy; Bảo giữ tờ giấy cho khỏi xê dịch. Đầu ngón tay dừng bên một vạch chia.
“Ông nhận ra sao?” hắn hỏi.
Môi ông Diệp chuyển động chậm. Cẩn cúi xuống nghe, chờ đến khi ông nói hết mới lặp lại: “Ông ấy bảo dấu chia giống dấu trên một viên đá lót thành giếng. Chưa chắc là cùng một thứ.”
“Ở chỗ nào?”
Ông Diệp giơ tay về phía sau bác giữ dây gàu. Cử động của ông mất một lúc. Cẩn nhìn theo, rồi bảo Tín đừng tới sát: khoảng ấy hẹp, người giữ dây đang đứng đó, không thể chen vào mà không đụng bác.
Bảo nhìn chiếc bánh trên ghế. “Nếu bác ấy muốn ngồi thì chúng ta có chỗ xem. Nhưng con không muốn kéo bác đi.”
“Cũng không cần xem ngay từ phía ấy.” Ông Cẩn đặt thước ngang mép rãnh. “Ta đo vòng ngoài trước, tìm xem còn dấu nào khác.”
Họ dùng dây đo từng đoạn thành giếng, buộc một nút ở chỗ tiếp giáp giữa các viên đá. Tín ghi số đo lên mảnh gỗ, còn Bảo giữ đầu dây. Hắn định chạy một vòng cho nhanh, bị Hổ giữ cổ áo lại: phía trước có một cụ bà đang nhấc thùng đi ngang. Bảo đứng chờ, mắt nhìn chiếc thùng nhích dần qua đầu rãnh.
“Ta có thể đỡ bà không?” hắn hỏi.
Hổ đến gần, ngồi xuống ngang tầm nhìn của cụ và nói rõ mình muốn đỡ đáy thùng. Cụ không trả lời ngay. Anh chờ một lúc, thấy bàn tay cụ hơi nới, mới đỡ phần dưới. Nước trong thùng sóng sánh; hai người đưa thùng lên bậc cửa gần đó. Hổ để tay cụ vẫn đặt trên quai, nói thùng ở ngay trước mặt. Khi trở lại, anh bảo Bảo rằng mình không biết cụ có muốn mang nước về nhà hay đang đưa tới nơi khác, nên không tự đem đi xa.
Bảo ghi thêm vào bản chép: *Thành giếng có người qua lại, không dời đồ khi chưa hỏi.* Hắn vốn định ghi số đo, nhưng chỗ ấy cần nhớ hơn một con số.
Tới đoạn đối diện rãnh, bàn chải của Tín quét ra ba vạch ngắn. Chúng nằm trên một viên đá lót thấp hơn mặt thành. Hai vạch đầu còn rõ, vạch thứ ba bị mép viên đá bên cạnh che mất. Ông Cẩn bảo Tín dừng tay, rồi lấy bản chép hình tròn so. Khoảng cách giữa các vạch trên đá không khớp tỉ lệ với hình vẽ; hình trong sổ vốn cũng không ghi kích thước.
“Có thể là dấu thợ,” Cẩn nói. “Ông Diệp từng làm việc ở đây, để ông xem.”
Ông Diệp được dìu tới chiếc ghế ngoài sân. Ông nhìn ba vạch, rồi mất một quãng mới nói được mấy chữ. Lần này Tín nghe rõ: “Đá cũ. Đừng cạy.”
Bảo rút tay khỏi mép viên đá. “Dưới ấy có đường nước ạ?”
Ông Diệp chậm rãi lắc đầu. Sau đó ông nói thêm, từng chữ cách nhau: “Không nhớ.”
Hắn thấy hơi hụt. Nhưng câu trả lời ấy tốt hơn một lời đoán. Ông Cẩn chép lại cả hai điều: đá cũ, và ông Diệp không nhớ bên dưới có gì. Tín vẽ vị trí ba vạch lên sơ đồ dây đo.
Thanh Nghi tới cùng Dư An trước bữa trưa. Nàng mang bản chép phần còn lại của quyển sổ, còn Dư An đem ít nước ấm. Bà Mạnh ở nhà, Hổ đã nhờ một người hàng xóm trông giúp và hứa quay về ngay sau khi xem xong giếng.
Thanh Nghi đặt hai tờ giấy cạnh nhau. “Trong sổ có câu nhìn hướng nước ra từ phòng trực. Nếu chỉ đường nước, ta phải tìm cửa thoát, không chỉ tìm những dấu giống hình tròn.”
Ông Cẩn chỉ đầu rãnh. Nước trên sân thường theo đó chảy về phía ruộng; đoạn gần giếng có một khe nhỏ nối vào dưới thành. Ông đã xem khe hôm trước, nhưng chưa biết nó ăn sâu bao nhiêu. Hôm nay ông muốn luồn một sợi dây mảnh, không buộc móc, vào chỗ ấy. Nếu dây vướng thì rút ra, không cố kéo.
Bảo muốn tự làm. Ông Cẩn đưa dây cho hắn, giữ tay hắn ở đầu rãnh để khỏi vô ý đẩy quá sâu. Sợi dây đi vào chừng một gang thì dừng. Bảo thử rút ra, đầu dây ướt và dính bùn mịn.
“Có gì chặn,” hắn nói.
“Hoặc khe đổi hướng,” Thanh Nghi đáp. “Dây mềm không tự rẽ được.”
Họ thử lại một lần từ góc khác, kết quả gần như vậy. Bảo nhìn một gang dây trên tay, không thể nói đó là bùn, đá hay một khúc ngoặt. Ông Cẩn nhận lại dây, quyết định không dùng que cứng thông khe khi chưa biết phía trong có gì.
Ô Kê trong lồng bỗng kêu lên. Hổ đã đặt lồng dưới bóng mái nhà đối diện, cách miệng giếng một quãng. Con gà quay đầu về phía Bảo, mổ vào máng nước. Hắn chạy tới xem; máng vẫn còn nước, nhưng một hạt thóc bị dính dưới đáy. Hắn đổ nước cũ, rửa máng và thay nước mới.
“Ngươi không cần báo mỗi hạt thóc,” hắn nói.
Ô Kê mổ thêm một cái. Hổ cười, đưa cho hắn chiếc bánh của mình để bẻ đôi. Bảo ăn một nửa, nửa kia để lại cho anh. Hắn không cho Ô Kê ăn bánh vì Dư An đã dặn giữ thức ăn của nó riêng.
Lúc Bảo trở lại, ông Diệp đang nhìn hình tròn. Ông chạm vào khoảng trắng giữa hình, sau đó chạm xuống nền giếng. Cẩn đưa cho ông một que ngắn. Người thợ già cầm mất một lúc mới vạch được một đường cong trên đất, rồi thêm một nét chỉ về phía rãnh.
“Ý ông là bệ nằm ở đây?” Bảo hỏi.
Ông Diệp không gật. Ông nhấc que, chỉ lại đường cong, rồi nói: “Viền.”
Thanh Nghi cúi xuống. “Viền của thứ gì ạ?”
Ông chưa nói được. Họ chờ, nhưng tay cầm que của ông đã run. Dư An đề nghị để ông nghỉ và uống nước. Cẩn chép hình trên đất trước khi nó bị giẫm mất, đánh dấu đây là nét ông Diệp vẽ hôm nay, không phải sơ đồ lấy từ sổ.
Sau bữa trưa, Hổ về nhà bà Mạnh. Bảo, Thanh Nghi và Tín ở lại với ông Cẩn. Họ so hình trên đất với các nút dây quanh giếng. Đường cong có thể gợi một phần vành, nhưng không có điểm đầu, điểm cuối hay kích thước. Cẩn bảo nếu xem nó là bản đồ thì sẽ đoán quá nhiều.
Bảo ngồi ôm đầu gối. “Ông Diệp dặn đừng cạy đá. Vậy chúng ta chỉ đứng nhìn thôi sao?”
“Ta có thể hỏi tiếp khi ông khỏe hơn. Cũng có thể xem lại ghi chép sửa giếng.” Ông Cẩn chỉ ba vạch. “Nhưng chưa có lý do để lấy một viên đá khỏi thành. Nếu viên ấy giữ những viên khác, một lần cạy có thể làm hỏng cả mép.”
“Nhà ông có sổ sửa giếng không?”
“Ta có vài tờ ghi việc mua đá. Sổ cũ hơn có thể ở nhà ông Diệp. Ta sẽ hỏi ông, không tự vào tìm.”
Tín thu dây. Cậu nói nhà mình còn mảnh ván từng dùng che rãnh khi sửa sân, có thể mang tới để đặt đồ đo, tránh rơi xuống nước. Bảo nghe chữ *che rãnh* thì giật mình. Tín vội giải thích chỉ định kê ván bên cạnh, không che đường nước. Cả hai cùng nhìn rãnh, rồi nhìn nhau; Bảo bật cười trước.
Ông Thuận tới đưa một bó cá nhỏ cho bà Mạnh, đi ngang thì dừng lại. Ông nghe Cẩn kể về các vạch trên thành và hình ông Diệp vẽ. Sau một lúc, ông bảo mình nhớ có lần giúp dọn bùn ở đầu rãnh, năm nào thì không chắc. Khi ấy bà Mạnh đã dặn để hở khe dưới thành, dù nước chảy rất ít.
“Bà có nói vì sao không?” Thanh Nghi hỏi.
“Bà nói nước cần đường đi. Ta tưởng bà chỉ sợ sân ngập.” Ông Thuận nghĩ thêm. “Ta không xuống dưới giếng, không biết khe thông tới đâu.”
Lời kể không đủ xác định cái bệ. Nhưng Bảo chép lại, ghi rõ đây là chuyện ông Thuận nhớ và năm chưa rõ. Hắn hỏi mượn bó cá mang về giúp, để ông còn nói với Cẩn. Ông Thuận đưa cá, dặn hắn đừng để gần lồng gà.
Bảo dẫn Xám về trước. Trên đường, hắn chào người giữ dây gàu. Chiếc bánh vẫn ở trên ghế, hơi khô ở mép. Hắn không biết bác đã nhìn thấy chưa, bèn nhắc lại rằng bánh ở đó, nếu bác không muốn ăn thì cứ để nguyên. Hắn lấy mảnh vải sạch che lên cho khỏi bụi, không bọc kín.
Trong nhà, Hổ đang giúp Dư An nhóm bếp. Bảo giao cá, kể từ đầu đến cuối: ba vạch trên đá, câu dặn không cạy, đường cong ông Diệp vẽ và việc luồn dây chỉ được một gang. Hắn cũng kể chuyện ông Thuận nhớ bà Mạnh từng nhắc để hở khe.
Dư An nghe xong hỏi: “Con định làm gì ngày mai?”
“Đợi ông Cẩn hỏi sổ sửa giếng. Nếu ông Diệp còn nhớ, con muốn hỏi viền ấy là viền gì.” Bảo nhìn về chiếc sọt đựng nồi. “Con vẫn muốn thử đặt nồi ở giếng.”
“Muốn là một chuyện. Đặt ở đâu, có đụng vào người giữ gàu hay chặn nước không, lại là chuyện khác.”
“Con biết.” Bảo ngập ngừng. “Nhưng nếu bà Mạnh đã đợi người nhận ca, mình cứ đo mãi thì bà phải đợi thêm.”
Dư An đặt tay lên vai hắn. “Vậy tối nay con kể cho bà nghe những gì đã biết. Bà có thể cần thời gian để trả lời, cũng như ông Diệp.”
Bảo lấy bản chép đặt trước bà Mạnh. Hắn không chỉ đọc câu về bệ; hắn kể cả những điều chưa tìm ra. Khi nhắc đến ông Thuận và khe nước, hắn dừng lại, để bà có thời gian nghe. Ngoài sân, Hổ đang mổ cá, tiếng dao chạm thớt đều và nhẹ.
Một lúc sau, ngón tay bà Mạnh dịch trên mặt bàn. Bảo chờ, không nắm lấy tay bà. Đầu ngón tay chậm chạp tới mép tờ giấy, dừng ở chữ *giếng*.
“Bà muốn nói gì với con ạ?”
Môi bà khẽ động. Hắn ghé lại gần, nhưng không nghe được tiếng. Dư An lấy một chén nước, đặt trong tầm nhìn của bà. Họ ngồi chờ bên bàn cho đến khi bà đưa mắt về phía cửa sổ, nơi có thể thấy một khoảng sân và mái giếng phía xa.
Bảo không coi cái chạm ấy là câu trả lời. Hắn đặt tờ giấy sao cho bà còn nhìn thấy, rồi nói ngày mai sẽ trở lại hỏi. Trước khi vào bếp giúp Hổ, hắn nhìn chiếc nồi trong sọt và để nó nguyên chỗ cũ.
Đêm xuống, trên bàn vẫn có bản chép với ba vạch mới được vẽ ở một góc. Bên cạnh, Bảo thêm một dòng nhỏ: *Bà Mạnh chạm vào chữ giếng; chưa nghe rõ bà muốn nói gì.*