Chương 360: Nước Cho Người Giữ Lửa
Bà Mạnh gọi tên Ô Kê trước khi trời sáng.
Dư An đang ngồi bên bếp, nghe tiếng bà liền tới gần. Bà nói rất chậm, phải ngừng hai lần giữa chừng, nhưng tên con gà rõ ràng. Ông không đánh thức Bảo ngay. Ông lấy chén nước, đỡ bà uống một ngụm, rồi hỏi bà có muốn gặp nó không.
Bà gật.
Ô Kê ngủ trong lồng dưới hiên. Hổ đã phủ một tấm vải mỏng phía có gió, để hở bên còn lại. Dư An kéo ghế của bà tới gần cửa, nơi bà vẫn nhìn thấy chiếc lồng, rồi mới gọi Bảo.
Bảo tỉnh dậy, tóc rối, chân còn xỏ nhầm một chiếc giày của Hổ. Nghe Dư An kể, hắn chạy ra hiên rồi bị chính chiếc giày rộng làm vấp. Hổ đỡ hắn, đổi lại đôi giày. Trong lồng, Ô Kê ngẩng đầu, phát ra một tiếng khẽ.
“Bà gọi ngươi đấy,” Bảo nói. “Hôm nay đừng mổ bà.”
Hắn đặt lồng sát hơn, đủ để bà nhìn rõ nhưng không chạm vào ghế. Bà Mạnh đưa tay lên, rất lâu mới chạm được nan. Con gà bước tới, đứng trước bàn tay ấy. Bà không vuốt nó; bà chỉ đặt một ngón tay qua khe nan, cách cái mỏ một khoảng.
“Bà nhớ nó?” Bảo hỏi.
Bà nói: “Nước.”
Máng trong lồng vẫn còn nước từ tối. Bảo thay nước mới, đặt lại đúng chỗ. Ô Kê uống, bà Mạnh nhìn theo. Hắn đợi bà nói tiếp; một lát sau, bàn tay bà hạ xuống, đôi mắt vẫn hướng vào lồng.
Dư An ghi lại những gì vừa xảy ra: bà gọi tên Ô Kê, muốn nhìn nó, nói chữ *nước*. Ông đặt tờ giấy trên bàn, để Bảo có thể bổ sung nếu nhớ điều gì khác. Bảo đọc xong, viết thêm: *Ô Kê uống nước sau khi thay máng.* Hắn không viết rằng bà đang ra lệnh cho con gà giữ lửa, vì bà chưa nói thế.
Khi ăn sáng, Hổ đề nghị đưa lồng ra sân giếng hôm nay. Nếu bà Mạnh muốn kể chuyện cũ, nhìn thấy giếng có thể giúp bà nhớ. Nhưng đưa bà tới đó sẽ mất sức; Dư An muốn xem bà ăn và nghỉ thế nào trước. Bảo nghe, không giục. Hắn bẻ bánh, để một phần bên bát cháo của bà, rồi xới thêm cho mình.
Ông Thuận tới khi mặt trời đã lên khỏi mái nhà. Ông mang một bó cá mới và một lời nhắn: người nhà có cửa xanh cảm ơn vì hôm qua đã giúp đưa nước. Họ hỏi có thể mượn chiếc ghế thêm ít hôm không. Ông nói đã đồng ý, chỉ muốn báo để Bảo khỏi tìm ghế ở sân giếng.
“Cháu không đòi đâu,” Bảo đáp.
“Ta biết. Nhưng hôm trước cháu còn định ghi cả hai cái thùng vào sổ.”
Hổ cười. Bảo cũng cười, rồi nhờ ông Thuận mang tới một cái bát thường. Hắn muốn xem bà Mạnh có nhận ra cách dùng bát ở giếng hay không, chứ không định lấy chiếc chén sứt trong phòng trực ra thử. Ông Thuận mang một cái bát sành không hoa văn, thành thấp và đáy rộng.
Sau bữa sáng, Dư An hỏi bà Mạnh có muốn ra hiên nhìn giếng từ xa không. Bà nhìn về cửa rồi nhích tay khỏi mặt bàn. Hổ và ông đỡ bà chuyển sang ghế cạnh hiên; Bảo kê một chiếc bàn nhỏ trước mặt bà. Hắn đặt bát nước lên đó, cạnh bản chép hình chim trên tấm biển.
“Ông Diệp kể bà từng cầm bát nước cho một con gà đen,” hắn nói. “Hôm qua bà nói đã cho Ô Kê uống ở giếng. Có phải bà làm việc ấy để kiểm người giữ lửa không?”
Bà nhìn bát. Hắn chờ, không đưa thêm câu hỏi. Một lúc lâu sau bà nói: “Uống... rồi... nghe.”
“Nghe gì ạ?”
Bà không đáp ngay. Dư An đưa nước, bà uống một ngụm. Ô Kê gõ mỏ vào máng, tiếng lách cách nhỏ vang lên dưới mái. Bà nhìn sang lồng, đầu ngón tay chậm chạp gõ một lần lên thành bát.
“Tiếng... nó.”
Bảo nhìn con gà. “Nghe nó kêu?”
Bà gật, rồi nói thêm hai tiếng: “Dưới... chân.”
Hắn ngẩn ra. Ô Kê có thể kêu bằng mỏ, bằng cổ, chứ dưới chân thì kêu thế nào? Hắn nhìn xuống những viên gạch hiên, nơi bóng nan lồng cắt thành từng vạch. Hổ cũng cúi xuống, thử gõ nhẹ lên viên gạch gần chân mình. Âm thanh đục và ngắn.
“Bà bảo nghe tiếng dưới chân con gà hay dưới chân người cầm bát?” Thanh Nghi hỏi.
Bà nhìn nàng nhưng chưa trả lời. Họ để bà nghỉ. Bảo đưa tờ giấy lại gần, viết nguyên những chữ bà vừa nói. Bên dưới hắn ghi thêm hai câu hỏi. Một lúc sau bà chạm vào dòng thứ nhất: *dưới chân con gà*.
“Ô Kê đứng ở đâu thì mới nghe được?” Bảo hỏi.
Bà chậm rãi chỉ về phía đường ra giếng. Hắn bỗng muốn bế con gà tới ngay. Nhưng Dư An nhìn đồng hồ cát nhỏ trên bàn, nhắc bà đã ngồi và nói một quãng khá lâu. Cả nhóm đưa bà vào chỗ mát. Bảo hứa sẽ thử tìm hiểu mà không mở nền giếng.
Ông Cẩn nghe kể xong, bảo có thể trước hết kiểm những chỗ Ô Kê từng đứng. Họ mang bản vẽ cũ ra sân, đánh dấu nơi con gà nhảy khỏi lưng Xám, đường nó chạy và khe đá nó đã mổ. Tín dựng lại hàng phên hôm qua, rồi giúp Bảo so vị trí với chân giếng.
“Có một chỗ khác,” Hổ nói. “Hôm nó tới giếng lần đầu, trước khi bới, nó đứng một lúc ở khoảng đất cạnh thành. Cháu còn nhớ không?”
Bảo nhớ con gà đứng trong bóng giếng, nhưng không nhớ chính xác chân nó đặt vào viên nào. Hổ cũng không dám vẽ một điểm. Họ đánh dấu một khoảng rộng bằng nét đứt, ghi rằng chỉ nhớ gần đúng.
Ông Thuận kê bát nước xuống phần sân trống. Bảo mở lồng, đợi Ô Kê tự bước ra. Lần này họ không đưa phên sát người giữ dây; Hổ đứng giữa con gà và đường đi, còn Tín giữ lối về phía rãnh. Ô Kê nhìn bát, uống một ngụm, rồi đi vòng qua chân Bảo.
Nó dừng lại, cào đất.
Bảo cúi xuống. Dưới chân con gà là đất khô, lẫn mấy viên sỏi nhỏ. Hắn ghé tai nhưng chỉ nghe tiếng móng cào. Ô Kê bới thêm hai cái, rồi quay trở lại bát nước.
“Có tiếng gì không?” Thanh Nghi hỏi.
“Có tiếng nó cào đất.” Bảo ngồi thẳng dậy. “Con không nghe thấy tiếng dưới đất.”
Ông Cẩn nhắc họ đang ở ngoài khoảng con gà đứng lần đầu. Từ đây tới chân giếng còn một đoạn. Bác giữ dây gàu ở bên kia, chân vẫn sát thành; không thể đưa Ô Kê vào khe mà không chuẩn bị. Ông đề nghị quan sát xem có chỗ nào gần giếng nhưng không đụng bác và không chạm đường nước.
Họ đo bằng sợi dây cũ, tính một lối vòng qua đầu sân. Lối ấy đi sát bức tường thấp, tới được một khoảng đá khô ở phía đối diện bác giữ gàu. Thanh Nghi xem bản vẽ và nói chỗ đó gần, nhưng không trùng khe Ô Kê từng bới. Ông Cẩn đồng ý cho con gà đi thử tới khoảng đá; ông và Hổ đứng hai bên, còn Bảo theo sau với bát nước.
Ô Kê không chịu đi theo lối họ định. Nó vòng qua chân phên, dừng trước chiếc ghế trống bên giếng. Hôm trước Bảo đã đặt bánh cho bác giữ dây ở đó. Chiếc bánh cũ không còn; Hổ kể sáng qua anh đã đổi lấy chiếc khác khi hỏi bác, rồi chiều đem chiếc cũ về xử lý.
Con gà nhìn chiếc ghế, bước một bước sang trái, rồi dừng. Bảo cúi xuống gọi. Nó không đáp, dùng mỏ chạm vào chân ghế, sau đó gõ xuống nền đá một tiếng.
Lần này Bảo nghe thấy một âm rất nhỏ. Không phải tiếng móng cào, cũng không giống tiếng mỏ đập thẳng lên đá. Âm thanh như tiếng một cái nắp chạm mép nồi, nhưng mỏng hơn, kéo dài hơn một chút.
Hắn giơ tay ra hiệu. Mọi người đứng yên. Ô Kê gõ thêm một lần; tiếng ấy lại vang lên, thấp đến mức bị tiếng gió qua mái lấn mất. Hổ nói anh cũng nghe. Thanh Nghi không chắc, vì lúc ấy có tiếng người gọi ở đầu ngõ.
Ông Cẩn ngồi xuống, nhìn nền. Chân ghế đặt trên một viên đá nhỏ, mép viên ấy cách rãnh khá xa. Ô Kê gõ vào nền cạnh chân ghế, không phải vào chân giếng. Cẩn thử dùng đốt ngón tay gõ gần chỗ ấy. Tiếng đá bình thường đáp lại.
Bảo thử gõ theo. Cũng chỉ là tiếng đá. Ô Kê đi vòng quanh chiếc ghế, quay lại đúng chỗ cũ và gõ một lần nữa. Âm mỏng kia lại vang lên.
Tín ngẩng đầu nhìn mái giếng. Trên xà có một chiếc móc sắt nhỏ, gió đang làm nó cọ vào vòng dây. Cậu chỉ cho mọi người xem. Khi móc lắc, âm thanh cũng mảnh và kéo dài.
“Có thể chúng ta nghe tiếng ấy,” cậu nói.
Bảo nhìn móc sắt, rồi nhìn Ô Kê. Hắn chờ con gà gõ lần nữa, đồng thời nhìn chiếc móc. Nó vẫn đung đưa; hắn không phân biệt được hai âm có cùng lúc hay không. Ông Cẩn không giữ móc lại, vì muốn xem nó có liên quan tới dây gàu. Họ ghi cả hai khả năng và đưa Ô Kê về phía có bóng râm.
Bảo thất vọng. Hắn đã tưởng mình nghe được điều bà Mạnh nói. Bây giờ chiếc móc trên xà lại khiến tiếng ấy có thể chỉ là một âm thanh bình thường.
“Dù là tiếng móc, con vẫn nghe thấy,” Hổ nói khi đưa cho hắn bát nước.
“Nhưng con chưa biết nó có ở dưới chân Ô Kê không.”
“Ừ. Ngày mai ta có thể chọn lúc ít gió để nghe lại.”
Ông Cẩn chỉ một vệt trên chân ghế. Chỗ Ô Kê chạm mỏ có dính ít đất đen, giống màu đất trong khe nó từng bới, nhưng chân ghế đã đặt ngoài sân nhiều ngày. Không ai biết đất bám từ lúc nào. Ông đề nghị không lau vết ấy trước khi cho bà Mạnh xem, còn chiếc ghế cứ để đúng chỗ cho bác giữ dây nếu bác muốn ngồi.
Trên đường về, Ô Kê không giãy trong lồng. Bảo kể với nó chuyện chiếc móc sắt và bảo ngày mai sẽ nghe lại. Hắn nói mình mong âm thanh ấy thật sự đến từ dưới chân nó, rồi tự nhận ra mong muốn không làm tiếng động đổi chỗ.
Bà Mạnh đang nghỉ. Dư An nghe họ báo, ghi thêm vị trí chiếc ghế và cái móc. Ông nói khi bà tỉnh sẽ kể lại, không cần đánh thức bà chỉ để hỏi một câu. Bảo đặt máng mới cho Ô Kê, rồi cùng Hổ làm cá ông Thuận đem tới.
Bữa tối, hắn để riêng một bát cá ít xương cho bà. Khi bà nhìn thấy, hắn kể hôm nay Ô Kê đã uống nước ở sân giếng, gõ mỏ gần chiếc ghế và có một âm thanh mỏng. Hắn kể cả chuyện cái móc trên xà, vì đó cũng là điều họ nhìn thấy.
Bà Mạnh nghe xong, môi chuyển động. Lần này Bảo ngồi gần, nghe được một câu đứt quãng:
“Đừng... bắt nó... giữ một mình.”
Hắn quay nhìn con gà. Nó đang ăn nốt chỗ thóc Dư An đong cho, mỏ lách cách chạm máng. Hắn từng lo Ô Kê chạy mất, lo nó không ăn, lo nó dẫn mình tới một khe đá nguy hiểm. Hắn chưa từng nghĩ có một công việc nào đó nó phải giữ một mình.
“Con ở đây,” hắn nói với bà. “Nếu nó cần người giúp, con sẽ tìm cách.”
Bà không nói thêm. Bảo đợi bà ăn xong mới đem bát đi rửa. Nước chảy trên tay hắn mát lạnh, trôi qua mép bát rồi xuống chậu. Hắn nhớ câu trong sổ: kiểm người giữ lửa, đừng chặn đường nước. Ngày mai hắn sẽ đem bát tới giếng lần nữa, và nghe khi gió ngừng.