Chương 362: Tiếng Đáp Từ Trong Giếng
Tiếng đáp tới khi Tạ Tiểu Bảo đang cãi nhau với một con gà.
“Ngươi gõ hai lần, rồi đợi một chút. Bà Mạnh nói thế.”
Ô Kê nhìn hắn, gõ một lần vào viên đá cạnh chân ghế, rồi quay đi uống nước. Bảo cầm bát đứng sau nó, không biết nên chờ hay nên nhắc lại. Hổ ngồi bên thành giếng, nghe hắn nói câu thứ ba thì bật cười.
“Có lẽ nó hiểu bà Mạnh hơn hiểu cháu.”
“Vậy bà phải nói với nó. Ta nói mãi nó chỉ nhìn bát.”
“Vì cháu cầm bát.”
Bảo nhìn xuống. Trong bát có ít thóc; hắn vốn định dùng nước nhưng sáng nay cầm nhầm. Hắn đưa bát cho Hổ, đi lấy nước. Ô Kê lập tức theo anh hai bước. Hổ nhấc bát lên cao, con gà nhảy với theo, làm anh suýt đổ cả thóc.
Đến khi Bảo trở lại, nó đã quay về chỗ cũ. Nó gõ một tiếng, ngẩng đầu. Bảo đặt bát nước xuống nền, đứng lùi ra. Chiếc móc trên xà giếng được Tín chèn bằng miếng gỗ như hôm qua; gió sáng nay nhẹ, vòng dây không đụng thành xà.
Ô Kê gõ lần thứ hai.
Âm mỏng ngân lên từ nền đá. Mọi người chờ. Bác giữ dây gàu đứng bên thành giếng, tay đã chuyển khỏi quai gàu sau khi ông Thuận giúp bác đổ nước vào thùng hôm qua. Ông Thuận ngồi gần đó, còn Cẩn và Thanh Nghi đứng cạnh rãnh.
Một tiếng rất khẽ vọng lên từ phía trong giếng.
Bảo ngẩng đầu. Hổ cũng quay lại, bàn tay vẫn giữ bát thóc. Tiếng ấy trầm hơn hai tiếng trước, như một giọt nước rơi xuống chiếc bát rỗng ở rất xa. Nó không lặp lại.
“Có ai ở dưới không?” Bảo hỏi.
Ông Thuận đưa tay ngăn hắn bước tới. “Ta chưa nghe rõ. Để ta nhìn.”
Ông đứng ở phía đối diện bác giữ dây, cúi nhìn xuống miệng giếng. Mặt nước ở sâu dưới bóng, phản chiếu một mảnh trời sáng. Không thấy người hay vật nổi. Ông gọi thử một tiếng, tiếng vọng trở lên yếu và đục, khác với âm vừa rồi.
Bảo muốn gọi Ô Kê gõ lại. Thanh Nghi nhắc hôm qua nó tự gõ khi nước rơi gần chân ghế; họ chưa biết tiếng vừa nghe là gì, cũng không thể ép nó làm theo. Con gà đã ăn thêm hai hạt thóc và đang rỉa cánh. Hắn chỉ đặt bát nước gần nó, rồi ngồi xuống đợi.
Trong lúc đợi, Tín kiểm đầu dây cũ trên xà. Miếng gỗ vẫn giữ móc khỏi va vào xà; cậu không thấy phần nào của móc hoặc vòng dây chạm mặt giếng. Ông Cẩn xem quanh thành đá, tìm một mảnh sắt hay vật lỏng có thể phát tiếng. Ông tìm thấy một chiếc đinh cũ ở chân cột, nhưng nó nằm yên trong gỗ.
Một người đàn bà mang rổ rau đi qua. Bảo chạy tới mở lối, Hổ nhấc bát thóc sang bên. Bà đi rất chậm; trong khi chờ, Bảo nhìn chiếc rổ nghiêng trên tay bà. Một bó rau gần mép sắp rơi, nhưng hắn nhớ lời Hổ, bèn hỏi bà có muốn hắn giữ không. Bà chưa đáp. Hắn đặt chiếc mẹt trống dưới mép rổ, nếu bó rau rơi sẽ không chạm đất.
Người đàn bà nhìn xuống chiếc mẹt. Sau một lúc, bà khẽ dịch rổ vào trong. Bó rau không rơi. Bảo chào bà, nhặt mẹt lên khi bà đã qua, thấy mình hơi ngượng vì đã chuẩn bị cho một chuyện không xảy ra. Hổ bảo chiếc mẹt còn sạch, có thể dùng tiếp.
Lúc ấy Ô Kê lại tới chân ghế. Nó gõ hai tiếng cách nhau một nhịp. Cả sân im xuống.
Tiếng trầm vọng lên lần nữa.
Ông Cẩn nhắm mắt, nghiêng đầu nghe. “Ta cũng nghe. Nó ở phía giếng, nhưng ta chưa xác định được dưới mặt nước hay từ thành.”
Bảo thử gõ hai tiếng trên viên đá bằng đốt ngón tay. Tiếng đá đục, không ngân như khi Ô Kê chạm mỏ. Cả nhóm đợi, nhưng không nghe tiếng đáp. Hắn thử lại, vẫn vậy. Ô Kê nhìn bàn tay hắn, mổ vào một hạt thóc dính trên tay áo rồi bỏ đi.
“Có lẽ ta gõ không đúng,” hắn nói.
“Hoặc tiếng đáp không phải do hai lần gõ gây ra,” Thanh Nghi đáp. Nàng chỉ mặt giếng. “Chúng ta nghe nó sau tiếng gõ hai lần, nhưng chưa nhìn được bên trong.”
Ông Thuận lấy một cái gàu khác, buộc dây riêng, đứng ở chỗ trống trên thành. Ông muốn hạ gàu xuống gần mặt nước để xem có vật nào nổi khuất trong bóng. Trước khi làm, ông hỏi bác giữ dây; bác nhìn chiếc gàu và khẽ nhích tay ra khỏi khoảng ông định đứng. Cẩn kiểm lại vị trí, bảo Tín giữ đầu dây ở ngoài, không quấn vào dây gàu của bác.
Gàu đi xuống chậm. Khi gần chạm nước, ông Thuận dừng, nghiêng người quan sát. Dưới đó chỉ thấy mặt nước, một chiếc lá và bóng thành giếng. Ông kéo gàu lên, trong gàu có nước trong cùng chiếc lá. Không có vật bằng sắt hay sành.
“Ta chỉ thấy phần mặt nước ở phía này,” ông nói. “Bóng bên kia còn tối.”
Ông không thả gàu xuống sâu hơn. Chiếc giếng là nguồn nước của làng; họ chưa biết bên dưới có gì và không muốn quấy bùn. Bảo nhặt chiếc lá trong gàu, đổ nước vào thùng tưới rau. Trong đầu hắn, tiếng đáp vẫn vang lên từng nhịp. Nếu không phải một người ở dưới đó, thứ gì có thể trả lời con gà?
Ông Thuận đưa hắn một miếng bánh. “Ăn đi. Cháu nghe từ sáng tới giờ, bụng kêu còn to hơn giếng.”
Bảo nhận bánh. Hắn vừa cắn thì Ô Kê lại gõ, nhưng lần này nó gõ ba tiếng liền, rồi chạy theo con bướm vàng. Không ai nghe tiếng đáp. Hổ đuổi theo sau nó, bước chậm để không dọa con bướm lẫn con gà.
“Ta nghĩ ngươi đang làm khó ta,” Bảo nói, miệng còn đầy bánh.
Ô Kê không quay lại.
Khi con gà đã nghỉ dưới bóng phên, Thanh Nghi đề nghị một người về phòng trực, đứng gần lỗ gió phía sau kệ để nghe. Từ giấy trong sổ, họ biết phòng ấy có hướng nhìn nước ra, nhưng chưa biết lỗ gió có thông tới giếng hay không. Nếu có âm thanh ở cả hai nơi, họ có thể đối chiếu thời điểm.
Cẩn đồng ý với điều kiện hai người ở phòng trực, hai người ở giếng, không tháo thêm thứ gì. Tín chạy đi mời ông Thuận sang trông giúp bác giữ dây. Ông vốn đang ngồi cạnh, đồng ý ở lại. Hổ đưa Ô Kê về phía có phên, hứa không để nó chạy sát thành.
Bảo muốn xuống phòng trực nhưng Thanh Nghi bảo hắn nên ở giếng: con gà đã quen hắn, còn nàng biết vị trí lỗ gió. Cuối cùng nàng đi với ông Cẩn. Họ hẹn khi nghe được gì sẽ ghi lại số lần và thời điểm theo cái bóng của cột sân, rồi trở về đối chiếu. Không ai yêu cầu bên kia tạo tiếng theo giờ; Ô Kê không có hẹn với cái bóng.
Bảo ngồi cạnh ghế, chờ lâu đến mức chiếc bánh chỉ còn vụn. Hắn nhặt vụn bánh khỏi áo, bỏ vào miệng. Hổ chăm chú nhìn con gà; Tín nhìn đầu ngõ, canh người qua lại. Có một lúc Ô Kê cúi xuống, Bảo nín thở, nhưng nó chỉ nhặt viên sỏi rồi nhả ra.
“Ngươi có thể nói cho ta biết trước khi làm không?” hắn hỏi.
Ô Kê vỗ cánh, làm bụi bay lên mặt hắn.
Gần giữa buổi, nó uống nước rồi trở lại viên đá. Hai tiếng gõ vang lên. Bảo nhìn bóng cột: đầu bóng vừa chạm mép tấm ván Tín kê cạnh rãnh. Hắn chỉ cho Tín, cậu lấy phấn đánh một dấu ở mép ván. Sau khoảng im lặng ngắn, tiếng trầm từ giếng vọng lên.
Lần này ông Thuận đứng gần miệng giếng nhất. Ông bảo tiếng nghe như đến từ phía trong thành, không chắc có qua mặt nước. Bảo muốn chạy ngay tới từ đường, nhưng Hổ giữ vai hắn: Ô Kê còn ngoài lồng. Hắn đưa bát thóc, đợi con gà bước vào rồi đóng cửa, sau đó mới cùng mọi người qua từ đường.
Thanh Nghi và Cẩn đang lên hai bậc đá. Tấm chắn ngoài đã được đóng lại; Tín tới giúp kiểm chốt. Thanh Nghi cầm tờ giấy, trên có dấu ghi vị trí bóng ở cột hiên từ đường. Nàng nói trong phòng trực họ nghe được hai tiếng mỏng, sau đó là một tiếng trầm yếu hơn. Chúng đến từ phía sau kệ, gần lỗ gió; nàng không đưa tay vào trong.
“Chúng ta cũng nghe ba tiếng,” Bảo nói. Hắn đưa dấu phấn trên mảnh gỗ nhỏ đã ghi lại vị trí bóng ở giếng. “Hai tiếng đầu là Ô Kê gõ. Tiếng sau ở phía giếng.”
Cẩn so hai ghi chép. Bóng cột ở hai sân khác nhau, không thể dựa vào đó khẳng định chính xác cùng một lúc. Nhưng cả hai nhóm đều nghe cùng một chuỗi ba tiếng trong lúc tách ra. Họ hẹn thử thêm khi có người chuyển tín hiệu giữa hai nơi, để biết chắc chuỗi âm thanh có trùng nhau.
Bảo gật, rồi hỏi điều hắn đã nghĩ từ sáng: “Nếu phòng trực nghe được tiếng giếng, bà Mạnh từng ngồi dưới đó nghe Ô Kê sao?”
“Có thể,” Thanh Nghi nói. “Bà biết tiếng dưới chân nó và bảo chờ tiếng đáp. Nhưng ta phải hỏi bà.”
Họ không xuống phòng lần nữa hôm ấy. Ông Cẩn kiểm chìa đã treo ở cột hiên, chào người phụ nữ cầm chổi, rồi cùng mọi người về nhà bà Mạnh. Bảo đi chậm vì chân đã mỏi; Hổ nhận khiêng lồng. Ô Kê rúc đầu dưới cánh, ngủ được một đoạn đường.
Dư An đón họ ở cửa. Bà Mạnh đã ăn xong và đang ngồi bên bàn. Bảo kể tiếng trầm vang từ phía giếng sau hai tiếng Ô Kê gõ; Thanh Nghi kể mình nghe một chuỗi tương tự ở phòng trực. Hắn đặt hai bản ghi trước mặt bà, chỉ vào khoảng trống sau hai dấu ngắn.
“Bà có từng nghe tiếng đáp ấy ở phòng trực không?”
Bà nhìn tờ giấy. Một lát sau, bà chạm ngón tay vào khoảng trống và nói: “Có.”
“Tiếng ấy nghĩa là gì ạ?”
Môi bà động đậy. Dư An rót nước, chờ bà uống. Khi đặt chén xuống, bà nói từng tiếng, rõ nhưng rất chậm:
“Còn... đường.”
Bảo nhìn Thanh Nghi. Nàng viết nguyên hai chữ. Hắn hỏi bà có phải tiếng đáp cho biết đường gió còn thông không; bà chưa trả lời. Hắn nhớ dưới thành giếng có khe nước, sau kệ có lỗ gió, giữa hai nơi còn một phần họ chưa nhìn thấy. *Còn đường* có thể chỉ điều nào trong đó.
Ô Kê thức giấc, gõ vào máng một tiếng. Bà Mạnh hướng mắt ra hiên. Bảo mang nước mới tới, nhưng con gà không uống ngay. Nó nhìn hắn, rồi nhìn về con đường tới giếng.
“Con nghe thấy rồi,” hắn nói. “Ngày mai con sẽ nghe tiếp. Không bắt ngươi giữ một mình.”
Hắn không biết Ô Kê hiểu được bao nhiêu. Trong nhà, bà Mạnh vẫn đặt tay lên tờ giấy có khoảng trống sau hai dấu ngắn. Bảo trở vào, ngồi cạnh bà, và lần đầu thấy khoảng trống ấy không chỉ là điều họ chưa biết. Nó còn là thời gian phải để lại cho một tiếng khác được nghe thấy.