Chương 363: Phần Việc Của Người Nghe
Sáng hôm sau, bà Mạnh không nhắc tới tiếng đáp.
Bà nhìn Tạ Tiểu Bảo ăn, cho tới khi hắn xới thêm bát cháo thứ hai. Đầu ngón tay bà chạm vào chiếc bánh trên đĩa, rồi đẩy nó về phía hắn. Chiếc bánh chỉ nhích một chút, nhưng Bảo thấy rõ.
“Bà muốn con ăn à?”
Bà chớp mắt. Bảo cầm bánh, xé đôi, đặt một nửa trở lại đĩa. Hắn ăn phần còn lại, kể với bà sáng nay Ô Kê đã uống nước và ăn hết một nhúm thóc. Hôm qua nó ngủ trên đường về; tối đến lại tỉnh, gõ máng hai lần khiến hắn tưởng có thêm tiếng đáp, hóa ra Hổ đang đóng cửa bếp.
Hổ từ ngoài hiên nói vọng vào: “Ta chỉ đóng một lần.”
“Vậy một tiếng là ngươi, một tiếng là Ô Kê,” Bảo đáp.
“Cũng có thể cả hai tiếng đều là con gà.”
Bảo ngẫm nghĩ, gật đầu. Bà Mạnh nhìn hai người, khóe môi hơi động. Hắn không rõ bà có cười không, nhưng hắn đã lâu mới có dịp kể chuyện không cần bà phải cố trả lời.
Khi bát cháo của bà gần cạn, Dư An hỏi bà có muốn nghe kế hoạch hôm nay không. Bà nhìn ông. Thanh Nghi lấy hai bản ghi hôm qua ra: một bản ở giếng, một bản trong phòng trực. Nàng nói cả nhóm sẽ thử đối chiếu lại chuỗi âm thanh, rồi tìm hiểu hai chữ *còn đường*. Họ không định mở bệ giếng hay tháo lỗ gió.
Bà Mạnh nhìn bản ghi rất lâu, sau đó chỉ vào dòng có chữ *phòng trực*.
“Bà muốn con xuống phòng ấy?” Bảo hỏi.
Bà lắc đầu. Ngón tay bà chuyển sang tên Thanh Nghi viết ở lề tờ giấy. Nàng hỏi bà muốn mình xuống, bà gật. Sau đó bà chỉ sang tên Bảo trên bản ghi ở giếng.
“Con ở giếng với Ô Kê,” hắn nói.
Bà lại gật. Dư An thấy bà mệt, giúp bà đặt tay lên khăn. Không ai hỏi thêm. Nhưng trước khi nhắm mắt, bà nói được ba tiếng: “Ghi... giờ... thiếu.”
Bảo nhìn quyển sổ của mình. “Giờ thiếu tiếng đáp ạ?”
Bà không trả lời. Dư An bảo sẽ ở lại nghe nếu bà nói tiếp, còn cả nhóm cứ làm theo việc vừa định. Bảo gói bánh đem theo, dắt Xám ra cổng. Trên lưng con la có lồng Ô Kê, hai bát nước và chiếc túi vải đựng giấy. Hổ kiểm nút dây; lần này Ô Kê không mổ nút, nó đứng nhìn bà Mạnh qua cửa.
Sân giếng có thêm ông Diệp. Tín dìu ông tới chiếc ghế kê dưới bóng tường; hôm qua ông nói muốn tới nghe. Ông Cẩn xem ghế vững, đặt chén nước trong tầm tay ông. Ông Thuận ở cạnh bác giữ dây gàu, kể chuyện người nhà cửa xanh đã trả đôi thùng và giữ chiếc ghế mượn.
“Bác ấy còn muốn ngồi không?” Bảo hỏi, nhìn chiếc ghế cạnh giếng.
“Ta đã hỏi. Bác nhìn ghế, chưa nói được. Ta để ở đây, không đặt gần rãnh.”
Bảo chào bác giữ dây, báo họ sẽ dẫn Ô Kê tới viên đá cạnh ghế. Bác nhìn chiếc lồng, bàn tay chậm chạp rời khỏi mép thùng hôm qua. Bảo chờ cho tay bác yên, rồi cùng Hổ dựng một khoảng phên đủ rộng để con gà đi từ chỗ râm tới ghế.
Thanh Nghi, Cẩn và Tín sang từ đường. Tín ở ngoài gian sau, nơi có thể nghe tiếng gọi từ sân; Thanh Nghi và Cẩn xuống phòng trực. Bảo cùng Hổ ở giếng. Giữa hai nơi, ông Thuận nhờ một người quen chuyển lời bằng cách chạy theo đường làng, vì tiếng gọi trực tiếp khó nghe qua các mái nhà. Họ thống nhất: khi Ô Kê gõ xong và bên giếng nghe hoặc không nghe tiếng đáp, người chuyển tin sẽ báo. Bên phòng trực ghi lại điều đã nghe trước khi nhận tin.
Bảo không biết chờ bao lâu. Ô Kê bước ra khỏi lồng, uống nước, rồi đi tới chân ghế. Nó bới hai lần trên đất, không gõ đá. Hắn ngồi xuống cạnh phên, lấy nửa chiếc bánh bà Mạnh cho ra ăn. Hổ đưa mắt nhìn, bảo cái bánh còn lại lúc nãy đã được bà ăn hết.
“Bà ăn ngon không?”
“Dư An nói bà ăn hết phần của mình. Lúc ta ra khỏi nhà, bà đang nghỉ.”
Bảo thấy nhẹ lòng. Hắn đưa phần bánh cuối cho Hổ. Anh nhận, nhưng trước khi cắn thì Ô Kê gõ xuống đá hai tiếng liền.
Bảo quay lại. Họ chờ. Một tiếng trầm vang lên từ phía giếng, rất khẽ. Ông Thuận giơ tay ra hiệu cho người chuyển tin. Người ấy chạy sang từ đường, còn Bảo viết vào giấy: *Hai tiếng gõ, một tiếng đáp; Ô Kê đứng cạnh chân ghế.*
Chẳng bao lâu, Tín trở lại với mẩu giấy do Thanh Nghi viết: *Nghe hai tiếng mỏng, rồi một tiếng trầm. Viết trước khi nhận tin.* Cậu nói lúc người chuyển tin tới, nàng đã đưa mẩu giấy cho cậu cầm, không sửa thêm. Hổ so hai tờ; lần này họ có thể chắc hơn cả hai nhóm vừa nghe cùng một chuỗi.
Bảo muốn thử lần nữa, nhưng Ô Kê đã nằm xuống dưới phên. Nó rúc đầu vào cánh, mặc hắn gọi. Ông Diệp nhìn con gà, nói một tiếng rất khẽ: “Đủ.”
“Ông bảo hôm nay đủ rồi?” Bảo hỏi.
Ông gật. Thanh Nghi và Cẩn trở về, nghe Tín kể. Họ đồng ý để Ô Kê nghỉ. Trước khi thu đồ, Bảo hỏi ông Diệp hai tiếng gõ và tiếng đáp dùng để kiểm đường nào. Ông già nhìn về giếng, rồi chạm vào thành chén nước của mình.
“Nước?” Bảo hỏi.
Ông Diệp lắc đầu, đưa tay lên gần miệng và thổi. Hơi thở yếu, nhưng Tín ngồi sát đã thấy. Cẩn lấy một dải giấy mỏng, giữ cách miệng ông một quãng; ông thổi lần nữa, mép giấy khẽ động.
“Đường gió,” Thanh Nghi nói.
Ông Diệp gật. Sau một lúc ông nói: “Còn... gió.”
Bảo nhìn giếng, rồi nhìn từ đường sau mấy mái nhà. Lỗ gió trong phòng trực và tiếng đáp có liên quan đến đường gió. Hắn định viết *đường gió thông suốt*, nhưng dừng bút. Ông Diệp chỉ nói còn gió; tiếng đáp có thể cho biết vẫn có một đường, không nhất thiết cho biết cả đường đều tốt.
Cẩn bảo nên báo cho bà Mạnh. Họ đưa ông Diệp về nhà nghỉ, để Tín ở lại với ông. Lồng Ô Kê được đặt trên lưng Xám, máng nước thay mới. Hổ dẫn con la, còn Bảo đi bên cạnh, hai tay giữ bản ghi khỏi gió.
Bà Mạnh nghe hết chuyện, kể cả việc hai nhóm đã ghi trước khi chuyển tin. Khi Bảo nói ông Diệp dùng hơi thở để chỉ đường gió, bà gật. Hắn hỏi *còn đường* có phải nghĩa là đường gió chưa tắt hẳn không. Bà chờ một lúc rồi đáp: “Còn.”
“Vậy khi không có tiếng đáp, chúng ta phải làm gì?”
Bà đưa mắt về phía tờ giấy. Dư An đặt bút vào tay bà, nhưng ngón tay bà không giữ được. Ông đặt bút xuống, nói bà có thể chỉ hoặc nói khi đủ sức. Bà phát ra hai tiếng: “Ghi... thiếu.”
Bảo nhớ lời buổi sáng. “Ghi giờ thiếu tiếng đáp?”
Bà gật.
“Rồi con làm gì tiếp?”
Bà cố nói, nhưng chỉ có hơi thở. Dư An bảo bà nghỉ. Bảo ngồi nhìn hai bản ghi. Từ sáng, họ mới chú ý những lần Ô Kê gõ và có tiếng đáp. Nếu một lần không có, họ cũng cần ghi lại, để người trực sau biết đường gió đã thiếu từ khi nào. Một dòng trống trong sổ không phân biệt được người ta không nghe thấy với người ta chưa từng nghe.
Hắn lấy một tờ giấy mới, chia thành bốn cột: lúc nghe, tiếng gõ, tiếng đáp và người nghe. Thanh Nghi thêm cột ghi chỗ đứng. Hổ nhìn rồi hỏi có cần cột cho Ô Kê ăn không.
“Cột ấy ở sổ khác,” Bảo đáp.
“Vậy để hai quyển cạnh nhau. Người nghe cũng phải ăn.”
Họ ghi lần sáng nay vào hàng đầu. Phần thời gian, Bảo viết *sáng, trước giữa buổi*, vì không có dụng cụ đo chính xác. Nàng thêm tên hai nhóm và địa điểm. Hắn không chép những lúc cả hai nhóm chưa cùng nghe như thể đó là một lần kiểm đầy đủ.
Chiều xuống, Ô Kê tỉnh dậy, ăn thêm rồi đi quanh lồng. Bảo mang tờ giấy cho bà Mạnh xem. Bà nhìn từng cột; tới cột *tiếng đáp*, bà chạm tay vào chữ *có*. Sau đó bà đưa tay xuống dòng trống bên dưới.
“Ngày mai con ghi tiếp,” hắn nói.
Bà chạm vào cổ tay hắn, kéo rất nhẹ về phía đĩa bánh. Hắn ngẩn người, rồi lấy một chiếc, xé đôi như buổi sáng. Hổ mang nước ấm tới; Dư An kê thêm gối cho bà. Không ai nhắc đến bệ giếng trong bữa ăn.
Tối ấy, Bảo đặt tờ theo dõi cạnh bản chép sổ ca. Dòng tên người nhận của bà Mạnh vẫn trống. Hắn chưa biết ai có thể nhận ca hay làm thế nào để bà được nghỉ, nhưng hôm nay đã có người nghe cùng bà, có người ghi lại tiếng đáp, và có người mang nước cho Ô Kê.
Hắn ngồi ngoài hiên một lát. Con gà không gõ máng. Từ phía giếng chỉ có tiếng gió luồn qua mái nhà và tiếng chân ông Thuận trở về. Bảo không ghi đó là một lần thiếu tiếng đáp; hôm nay không có ai đứng nghe ở phòng trực. Hắn để dòng kế tiếp trống, chờ ngày mai.