Chương 364: Một Dòng Ghi Thiếu
Hôm ấy, tiếng đáp không tới.
Tạ Tiểu Bảo đứng cạnh chiếc ghế bên giếng, đếm hết mười nhịp thở. Ô Kê đã gõ xuống viên đá hai lần, mỗi tiếng đều mỏng và rõ. Sau đó con gà đứng yên, đầu nghiêng về phía thành giếng. Bảo cũng nghiêng đầu theo, nhưng chỉ nghe tiếng nước nhỏ từ gàu xuống thùng.
Hổ ở bên kia chiếc phên hỏi: “Cháu có nghe gì không?”
Bảo lắc đầu. Hắn nhìn ông Thuận; ông cũng không nghe thấy. Người chuyển tin được hẹn trước lập tức chạy về phía từ đường, nơi Thanh Nghi và ông Cẩn đang chờ trong phòng trực. Tín ở cửa gian sau để chuyển giấy.
Ô Kê đi một vòng quanh chân ghế, trở lại viên đá, gõ hai tiếng nữa. Cả nhóm chờ. Lần này Bảo nghe thấy tiếng sột soạt rất nhỏ, nhưng không có âm trầm từ phía giếng như hôm qua. Hắn tìm tiếng sột soạt, thấy mép vải che bánh trên ghế bị gió lật lên. Hổ vuốt vải lại, đặt viên sỏi sạch ở góc.
“Có phải đường gió đã tắt rồi?” Bảo hỏi.
Ông Thuận không đáp ngay. Ông cúi nhìn mặt nước, rồi nhìn bác giữ dây gàu. Bác đang cầm quai thùng, bàn tay nhích đi chậm chạp. Nước trong thùng còn hơn nửa. Chuyện ở giếng vẫn diễn ra như buổi sáng trước, chỉ thiếu một tiếng mà mấy người vừa bắt đầu học cách nghe.
“Chờ tin bên phòng trực,” ông nói. “Ở đây không nghe được thì ghi không nghe được.”
Bảo lấy tờ giấy chia cột. Hôm qua hàng đầu ghi có tiếng đáp ở cả hai nơi. Hôm nay hắn viết vào hàng thứ hai: *Sáng, Ô Kê gõ hai lần. Bên giếng không nghe tiếng đáp.* Hắn thêm tên mình, Hổ và ông Thuận. Khi định ghi lần gõ thứ hai, hắn dừng lại: người chuyển tin đã đi sau lần đầu. Hắn ghi riêng hai lần, không nhập làm một.
Tín chạy tới với mẩu giấy của Thanh Nghi. Nàng ghi đã nghe hai tiếng mỏng, chờ một lúc nhưng không nghe âm trầm. Khi người chuyển tin đến, nàng vẫn ở chỗ cũ. Cậu đưa thêm lời ông Cẩn: phòng trực không có mùi khói, không thấy bụi hay vật lạ quanh lỗ gió.
Bảo đọc hai lần. “Bên ấy cũng thiếu.”
“Thiếu tiếng đáp trong lần nghe này,” Hổ nói. Anh chỉ hàng thứ hai. “Còn lần Ô Kê gõ sau khi người chuyển tin đi, ta phải hỏi lại bên ấy.”
Tín nói sẽ sang hỏi. Cậu vừa quay đi thì Ô Kê gõ thêm một lần đơn lẻ, rồi uống nước. Bảo nhìn theo, không biết có nên ghi cả tiếng đơn ấy không. Cuối cùng hắn ghi ở lề: *Một tiếng riêng, không nghe thấy tiếng đáp; chưa báo bên phòng trực.*
Khi Tín trở lại, cậu mang theo tờ giấy thứ hai. Thanh Nghi nghe được một tiếng mỏng sau lúc nhận tin, không chắc đó là tiếng đầu hay tiếng sau của lần gõ thứ hai. Nàng cũng không nghe tiếng đáp. Bảo chép rõ sự không chắc chắn ấy, không gộp hai bản thành một câu đầy đủ hơn những gì họ biết.
Hắn gấp giấy, nhìn Ô Kê. Con gà đang ăn thóc dưới phên, chốc chốc lại dừng, ngẩng đầu về phía giếng. Nó không có vẻ bị thương, nhưng hắn nhớ lời bà Mạnh: đừng bắt nó giữ một mình. Nếu đường gió thật sự có vấn đề, ngồi đợi con gà gõ thêm sẽ không phải cách duy nhất.
“Ta về hỏi bà,” hắn nói.
Hổ đồng ý. Ông Thuận ở lại với bác giữ dây, còn Cẩn và Thanh Nghi sẽ trở về sau khi đặt mọi thứ trong phòng trực như cũ. Bảo nhờ Tín tháo miếng chèn khỏi móc trên xà, trả nó về tình trạng trước khi thử. Xong xuôi, hắn dẫn Ô Kê vào lồng, thay máng nước, rồi cùng Hổ mang bản ghi về nhà.
Bà Mạnh vừa được Dư An giúp ăn cháo. Nghe Bảo đọc dòng ghi thiếu, bà đặt tay lên mặt bàn. Ngón tay bà run; Dư An đỡ chiếc bát ra xa, tránh va đổ. Bảo đưa tờ giấy cho bà nhìn, chỉ từng cột: lúc nghe, tiếng gõ, tiếng đáp, người nghe và chỗ đứng.
“Cả con ở giếng và Thanh Nghi trong phòng đều không nghe được tiếng đáp lần đầu,” hắn nói. “Lần thứ hai, con không chắc bên phòng nghe đủ hai tiếng gõ. Con đã ghi riêng.”
Bà Mạnh nhìn hàng chữ, môi động chậm. Một lúc sau, bà nói: “Đèn.”
Hổ định tới bếp lấy đèn, nhưng bà lắc đầu. Bà đưa mắt về bản chép phòng trực. Thanh Nghi vừa về đến, nghe vậy lấy tờ sơ đồ kệ và lỗ gió đặt trên bàn.
“Đèn trong phòng trực?” nàng hỏi.
Bà gật. Ngón tay bà dịch về phía tờ sơ đồ, chạm gần vị trí cửa. Bảo nhớ cái đèn trên bàn họ đã tắt sau những lần xuống phòng, và chiếc đèn nhỏ trên kệ phủ vải. Hắn không biết bà nói cái nào.
Dư An lấy giấy viết hai dòng: *đèn trên bàn* và *đèn trên kệ*. Bà nhìn cả hai. Sau một quãng nghỉ, bà chạm vào dòng thứ nhất. Thanh Nghi kể trong phòng họ đã dùng đèn ấy để đọc sổ và luôn tắt trước khi ra; hôm nay lúc nghe tiếng gõ, đèn đang sáng.
Bà Mạnh khẽ lắc đầu. “Lửa... nhìn.”
“Nhìn ngọn lửa?” Thanh Nghi hỏi.
Bà chớp mắt. Ông Cẩn nói ông từng dùng ngọn đèn xem gió ở những phòng kín: ngọn lửa nghiêng có thể cho biết hướng gió gần đó, nhưng cũng bị ảnh hưởng bởi cửa mở, người đi lại và hơi thở. Nếu thử, phải giữ vị trí đèn ổn định, tránh để lửa sát giấy hoặc vải.
Bảo nhớ lỗ gió nằm sau kệ, còn tờ giấy và sổ trên bàn. Hắn hỏi có nên đặt đèn gần lỗ không. Bà Mạnh chưa đáp, nhưng bàn tay bà dịch tới hình chiếc bàn trên sơ đồ. Thanh Nghi hiểu bà muốn nhắc nơi đặt đèn đã có sẵn; nàng nói sẽ quan sát từ bàn trước, không mang đèn sát kệ.
Trước khi họ đi, Dư An hỏi bà có muốn gửi lời gì thêm. Bà cố nói, ngừng nhiều lần. Cuối cùng họ nghe được: “Không... lấy... nồi.”
Bảo nhìn chiếc sọt ở góc nhà. Nắp nồi vẫn bọc cùng thân nồi, đặt dưới tấm vải. Hắn chưa định mang nó ra hôm nay, nhưng khi nghe lời ấy vẫn thấy bụng thắt lại. Hắn đã tưởng mang nồi về là một bước tiến; giờ đây bà dặn không lấy nó đi.
“Con để nồi ở đây,” hắn nói. “Con chỉ đi xem đèn.”
Bà nhìn hắn, bàn tay thôi run một lát. Hổ ở lại cùng Dư An, còn Bảo theo Thanh Nghi và ông Cẩn tới từ đường. Ô Kê được để trong lồng dưới hiên, có thóc và nước. Bảo nói với nó rằng sẽ về trước bữa chiều; con gà mổ một hạt rồi ngẩng đầu.
Người phụ nữ cầm chổi vẫn ở hiên từ đường. Bảo chào, nói rõ họ xuống xem ngọn đèn theo lời bà Mạnh. Tín đã chờ sẵn ở gian sau. Cậu giữ tấm chắn khi ông Cẩn mở chốt, kiểm bậc và cửa trong. Thanh gài vẫn nằm trên nền phía trong, miếng chèn ở cửa còn nguyên.
Trong phòng, Thanh Nghi đặt đèn trên bàn như lần trước, cách xa giấy và miếng vải. Cẩn thắp đèn, rồi cả ba đứng yên. Ngọn lửa nghiêng về một phía, sau đó thẳng lên. Ông nhìn cửa đang mở, bảo có thể gió từ lối vào ảnh hưởng. Ông đưa một tấm bìa nhỏ ra gần cửa để xem luồng gió; mép bìa rung.
“Ta cần biết lúc cửa ở vị trí cũ thì lửa thế nào,” ông nói. “Nhưng không đóng kín khi còn người ở trong. Ta có thể đứng ở cửa, giữ cửa gần lại mà vẫn để lối ra.”
Bảo đứng trên bậc, Tín ở phía ngoài. Ông Cẩn giữ cửa trong ở một góc nhỏ, không gài thanh. Thanh Nghi quan sát ngọn lửa từ chỗ bàn. Sau một lúc, nàng gọi:
“Nó nghiêng về phía cửa, rồi trở lại.”
Cẩn mở cửa rộng hơn; ngọn lửa đổi hướng. Họ thử lại một lần, cùng vị trí đèn và cùng góc cửa. Kết quả gần giống, dù không hoàn toàn như trước. Thanh Nghi ghi lại hai lần quan sát, cả tình trạng cửa, không gọi đó là phép đo đường gió trong giếng.
Bảo nhìn bàn. Dưới chân đèn có một vệt tròn nhạt, rộng hơn đáy đèn một chút. Hắn chỉ cho Cẩn. Người thợ nói có thể chiếc đèn từng được đặt ở đó nhiều lần; ông nhấc đèn, thấy vệt khô, không có chữ hay dấu chỉ hướng. Họ đặt đèn trở lại giữa vệt.
Lần này, khi cửa giữ gần lại, ngọn lửa nghiêng nhẹ về phía sau phòng rồi đứng thẳng. Thanh Nghi ngạc nhiên, nhìn Cẩn. Ông bảo chờ thêm; người vừa di chuyển có thể gây gió. Cả ba đứng yên. Sau một khoảng ngắn, ngọn lửa lại cúi về phía sau, rất nhẹ, trong khi dải giấy gần cửa thôi rung.
“Có gió đi về phía kệ?” Bảo thì thầm.
“Ta thấy lửa nghiêng về phía ấy,” Cẩn đáp. “Đó là một dấu để báo bà Mạnh. Chưa biết luồng đi tiếp tới đâu.”
Họ ghi lại vị trí chân đèn trong vệt tròn và trạng thái cửa. Bảo để ý ngọn lửa cứ lúc nghiêng lúc đứng; nó không tắt. Hắn nhớ bà dặn đừng để tắt, và lần này câu ấy khiến hắn tự hỏi bà nói về ngọn đèn, đường gió hay Ô Kê. Có thể nhiều việc trong ca trực cùng dùng một chữ lửa.
Cẩn tắt đèn, chờ bấc nguội, rồi đặt lại các vật trên bàn. Họ rời phòng, chèn cửa trong như trước, đóng tấm chắn và treo chìa lên cột hiên. Bảo đọc lại bản ghi cho người phụ nữ cầm chổi nghe: họ đã xem đèn và không lấy chiếc nồi tới.
Ở nhà, bà Mạnh vẫn thức. Bảo kể về hai lần ngọn lửa đổi hướng, cả lúc đứng thẳng. Thanh Nghi chỉ vị trí đèn trong vệt tròn. Bà nhìn sơ đồ, chạm vào hình chiếc đèn, rồi nói: “Đợi.”
“Đợi bao lâu ạ?” Bảo hỏi.
Bà chưa nói được. Dư An để giấy lại trước mặt bà, bảo ngày mai có thể hỏi tiếp. Cẩn hẹn sáng mai mang một chiếc đồng hồ cát để cùng ghi thời gian chờ, rồi về nhà. Thanh Nghi giữ bản ghi đèn cạnh tờ ghi thiếu tiếng đáp.
Bảo ra hiên thay nước cho Ô Kê. Con gà nhìn chiếc bát, uống một ngụm rồi gõ mỏ vào nan. Hắn không đếm thành một lần kiểm. Hắn ngồi xuống, kể nó nghe ngọn đèn đã nghiêng về phía sau phòng rồi đứng thẳng.
“Ngày mai chúng ta sẽ đợi,” hắn nói. “Lần này ta mang theo người biết đếm thời gian.”
Ô Kê gõ máng thêm một tiếng. Bảo định bảo nó rằng mình cũng biết đếm, rồi thôi. Hôm nay có một dòng ghi thiếu trên giấy, ngọn đèn chưa tắt, và bà Mạnh vẫn chưa nói hết. Hắn xếp chiếc bát gọn trong lồng để con gà không làm đổ nước khi trời tối.