Chương 368: Sổ Của Người Đến Sau
Sáng hôm sau, Tạ Tiểu Bảo đem hai chiếc bát ra sân.
Một chiếc đựng thóc cho Ô Kê, chiếc kia đựng nước. Hắn đặt cách nhau một gang, đợi con gà bước khỏi lồng. Nó uống nước trước, sau đó ăn thóc. Khi thóc còn một nửa, nó ngẩng đầu nhìn về phía giếng.
“Đây là phần hôm nay,” Bảo nói. “Còn phần ngươi đã ăn của người sau, ta chưa tìm thấy cách trả.”
Ô Kê mổ một hạt nữa. Hắn không biết nó có hiểu không, nhưng vẫn muốn nói rõ. Hắn nhớ lời bà Mạnh: nấu thêm một bát cơm không làm phần ấy trở lại. Vậy mà Ô Kê vẫn cần ăn sáng; hai việc đó không thể thay nhau.
Hổ đem chiếc chổi đã sửa ra hiên. Anh vừa buộc lại đầu chổi vừa nghe Bảo kể. Đêm qua hắn đã ngồi lâu cạnh lồng, sáng dậy chậm hơn mọi ngày. Hổ đưa cho hắn một chiếc bánh còn ấm.
“Cháu cũng có phần hôm nay.”
Bảo cầm bánh, cắn một miếng lớn. Hắn vừa nhai vừa nhìn con gà, rồi nhận ra mình đang đứng che nắng của nó. Hắn dịch sang bên, ngồi xuống bậc cửa. Ô Kê đi vòng qua bát thóc và mổ một hạt bánh rơi trên nền.
“Cái ấy của ta.”
Con gà đã nuốt. Hắn nhìn mẩu bánh trong tay, quyết định không tính nợ chỉ vì một hạt vụn.
Dư An gọi mọi người vào nhà. Bà Mạnh thức từ sớm, đầu ngón tay đặt trên bản chép dòng *không ghi đã trả*. Ông nói bà muốn nhìn lại tờ giấy. Bảo trải phẳng, đọc từng chữ. Bà nghe xong, chạm vào chữ *trả*, rồi chỉ về phía từ đường.
“Trong phòng trực có ghi cách trả ạ?” hắn hỏi.
Bà chưa đáp. Thanh Nghi đưa sơ đồ kệ và bàn ra. Ngăn dưới có hộp giấy bàn giao, chiếc chén sứt và chồng vải; ngăn trên có tấm bảng cùng vài vật dụng. Bà nhìn rất lâu, sau đó chạm vào hình chiếc hộp.
“Hôm qua chúng con xem quyển sổ kiểm nước trên bàn,” nàng nói. “Bà muốn xem giấy trong hộp?”
Bà gật. Hắn nghĩ tới những trang đã đọc về ngày mình rời làng. Tờ bàn giao nói người rời ca để lại phần chưa chia, nhưng chưa có ai nói phần ấy có giống phần của người giữ lửa không. Hắn nhờ Dư An hỏi bà liệu có thể mang một bản chép về; bà chạm vào giấy, rồi nhích tay về phía chiếc bút.
“Con sẽ chép lại, không mang giấy gốc đi,” hắn nói.
Bà khẽ gật. Hổ ở lại với bà và Dư An, vì hôm nay ông Thuận đã nhận giúp ở giếng. Bảo dẫn Xám, mang Ô Kê cùng Thanh Nghi. Ông Cẩn và Tín đã có mặt ở từ đường. Họ phân công như lịch: nàng và Cẩn nghe trong phòng trực, Bảo cùng Thuận ở giếng, Tín nhận giấy từ người chuyển tin.
Lượt nghe sáng ấy có đủ hai tiếng gõ và một tiếng đáp. Bản ghi trong phòng trực khớp với tín hiệu bên giếng. Bảo ghi thời gian bắt đầu và kết thúc bằng bóng cột, cảm ơn người chuyển tin, rồi chờ Thanh Nghi cùng Cẩn ra khỏi phòng.
Nàng kể khi nghe xong, họ chưa mở hộp; cả nhóm muốn cùng xem theo lời bà Mạnh. Ô Kê được đưa vào lồng, đặt dưới mái từ đường với nước và thóc. Ông Thuận trở lại giếng, ngồi cùng bác giữ dây. Bảo chào người phụ nữ cầm chổi, giải thích họ xuống xem hộp và sẽ chép thứ cần thiết cho bà Mạnh.
Trong phòng, chiếc hộp vẫn ở ngăn dưới. Ông Cẩn tháo dây quấn, đặt nắp sang bên trên tấm ván sạch. Bảo nhớ thứ tự giấy trong hộp: tờ lệ đưa trẻ đi, quyển sổ mỏng ghi ca, và tờ nói về việc người trực giữ quá sức. Họ lấy từng thứ ra, giữ nguyên vị trí để đặt lại.
“Bà chỉ hộp, nhưng không nói trang nào,” Bảo nói.
“Ta có thể đọc từ đầu, ghi những dòng liên quan đến phần ăn,” Thanh Nghi đáp. “Nếu tìm được chỗ chưa hiểu, đem bản chép về hỏi bà.”
Tờ lệ đưa trẻ đi nói nồi phải ra ngoài cửa khi đổi ca. Quyển sổ mỏng ghi tên người trực và người nhận qua các đời, dòng cuối là tên bà Mạnh, người nhận còn trống. Bảo nhìn những dòng trước đó. Có những lần giao ca diễn ra trọn vẹn: hai tên, ngày giao, chữ ký và một dấu nhỏ ở cột cuối. Có lần cột cuối để trống, rồi được ghi bổ sung bằng mực khác.
“Cột này ghi gì?” hắn hỏi.
Thanh Nghi soi đèn. Đầu cột viết *phần sau*, nét mực mờ nhưng còn đọc được. Nàng lần xuống một hàng: bên cạnh tên người nhận có chữ *đã nghe*, phía dưới là dấu nhỏ. Một hàng khác ghi *chưa nghe*, dấu để trống. Không hàng nào ghi *đã trả*.
Bảo nhớ lời trong sổ kiểm nước: không ghi đã trả. Hắn hỏi dấu nhỏ có nghĩa là trả hay chỉ là đã nghe. Cẩn đưa tay chỉ dòng đầu trang: *Người nhận nghe việc phần sau, tự ghi dấu. Dấu không thay cho phần.*
Bảo ngồi xuống chiếc ghế cạnh tường. Người đến nhận ca phải biết có một phần đã bị ăn, rồi tự ghi dấu sau khi nghe. Những dấu ấy cho thấy nhiều người đã nghe câu chuyện, không phải ai cũng đã trả được phần.
“Vậy bà Mạnh cũng đã nghe khi nhận ca?” hắn hỏi.
Ở dòng tên bà có dấu nhỏ trong cột phần sau. Thanh Nghi chép lại, ghi rõ dấu nằm ở dòng bà, còn người nhận sau bà vẫn trống. Bảo nhìn dấu rất lâu. Bà đã giữ câu chuyện này trong ca trực, đến khi có thể nói lại cho hắn.
Cuối quyển sổ còn một tờ gấp nhỏ kẹp vào bìa. Hôm trước họ đã mở quyển sổ tại trang tên bà, chưa tháo tờ ấy. Trên mép giấy có chữ *người nhận đọc sau khi nghe*. Bảo nhìn ông Cẩn. Người thợ hỏi Thanh Nghi liệu lời bà Mạnh chỉ vào hộp có đủ để họ đọc tờ này không. Nàng nói họ đã được bà bảo tìm trong hộp và bà đang là người trực; có thể xem để chép lại cho bà, giữ nguyên tờ gốc.
Bảo mở tờ giấy. Bên trong chỉ có vài dòng:
*Người giữ lửa đã ăn phần của mình và phần của kẻ đến sau. Không đuổi nó khỏi cửa vì nợ ấy. Người nhận ca cần biết: nó giữ lửa, nhưng không tự chia lại được phần đã mất.*
Phía dưới có một hàng khác bị nước làm nhòe. Họ đọc được chữ *đói*, phần còn lại đứt nét. Bảo không biết đó là chữ chỉ Ô Kê hay người đến sau. Hắn chép dòng còn rõ, đánh dấu chỗ nhòe, rồi nhìn ra cửa. Ngoài sân, con gà đang gõ máng.
“Nó không tự chia lại được,” hắn nói. “Cho nên bà bảo đừng bắt nó giữ một mình?”
“Có thể hai việc liên quan,” Thanh Nghi đáp. “Ta đem dòng này về hỏi bà.”
Cẩn lật mặt sau. Có một nét vẽ chiếc bát và một đường ngang phía trên. Bên cạnh là chữ *để chỗ*. Không có hướng dẫn bỏ gì vào bát. Bảo muốn hỏi nếu người nhận ca biết chuyện, người ấy có trách nhiệm trả phần hay không, nhưng tờ giấy không nói. Hắn chép cả mặt sau và vị trí những chỗ mờ.
Họ xếp lại giấy, buộc hộp như cũ, kiểm cửa và tấm chắn. Trước khi ra sân, Bảo đọc cho người phụ nữ cầm chổi nghe dòng nói không đuổi người giữ lửa. Hắn nói mình sẽ đưa bản chép về cho bà Mạnh. Người phụ nữ không đáp, bàn tay vẫn giữ cán chổi; hắn đặt lại chổi đúng chỗ khi cán hơi nghiêng về phía bậc.
Ô Kê ăn hết thóc trong máng. Bảo đong thêm một ít, chờ nó ăn rồi mới buộc lồng lên lưng Xám. Trên đường về, hắn nghĩ tới câu *không đuổi nó khỏi cửa*. Nếu kẻ ăn mất phần của người khác là hắn, có lẽ hắn đã sợ bị đuổi đi. Ô Kê đã đi theo hắn ra khỏi làng, nhưng tờ giấy không nói nó rời cửa để chịu phạt. Hắn không muốn tự đặt một hình phạt vào chỗ người viết đã để trống.
Bà Mạnh nghe hết bản chép. Khi Bảo đọc tới câu không đuổi người giữ lửa, bà chạm tay vào mặt bàn. Hắn đưa tờ giấy lại gần; bà nhìn chữ *giữ lửa*, rồi nói rất chậm: “Nó... còn... giữ.”
“Ô Kê vẫn đang giữ?” hắn hỏi.
Bà gật. Hắn kể sáng nay hai nơi cùng nghe được tiếng đáp. Bà nhìn ra hiên, nơi Hổ đang mở tấm vải che lồng cho thoáng. Con gà đã ăn và uống, giờ đứng yên dưới bóng mái.
“Phần của người sau có thể chia lại không ạ?”
Bà chưa đáp. Dư An rót nước, đợi bà uống. Một lúc sau bà đưa tay tới chiếc nồi trong sọt. Bảo quay nhìn, lòng bỗng nóng lên. Hắn vừa muốn lấy nồi ra, vừa nhớ lời bà dặn không lấy nó đi hôm qua.
“Bà muốn con mang nồi tới giếng?”
Bà lắc đầu. Bàn tay bà hướng về chiếc sọt lần nữa, rồi chạm vào chữ *chia* trên bản chép. Thanh Nghi đọc lại: “Nó không tự chia lại được phần đã mất.” Bà Mạnh chớp mắt.
“Cái nồi có thể chia?” Bảo hỏi.
Bà nói: “Đong... trước.”
Hắn nhớ lời Mộc từng dặn đo đáy trước khi chia phần. Nhưng bà chưa nói đong cái gì, cũng chưa bảo đặt nồi lên bệ. Hắn cầm bút ghi hai tiếng ấy, để phía dưới câu chưa trả lời. Hổ tới gần, hỏi bà có muốn xem nồi ngay tại nhà không; bà không đáp, mắt đã mỏi. Dư An đề nghị dừng ở đó.
Chiều ấy, Bảo cùng Hổ nấu cơm bằng nồi bếp của bà. Hắn vo gạo, chắt nước, để phần bà mềm hơn. Khi chia cơm, hắn tự lấy bát nhỏ cho mình trước, rồi xới thêm sau khi mọi người đã có phần. Hổ nhìn, hỏi sao hôm nay hắn không lấy bát lớn.
“Con muốn biết còn bao nhiêu.”
“Ăn xong vẫn còn, cháu cứ lấy.”
Quả nhiên cơm còn. Bảo xới thêm, ăn hết rồi rửa bát. Bà Mạnh không ăn nhanh, hắn để phần của bà trên bàn cùng nước ấm. Ngoài hiên, Ô Kê đã ăn xong thóc, nhưng vẫn đi lại, thỉnh thoảng nhìn vào bếp.
Bảo tới bên lồng. “Giấy nói không đuổi ngươi. Ta cũng không đuổi.”
Con gà đưa mỏ qua nan. Hắn chìa đầu ngón tay, để nó mổ một cái. Hắn chưa biết người đến sau là ai, chưa biết phải đong thứ gì và càng chưa biết làm sao trả phần đã mất. Nhưng từ nay hắn biết một người nhận ca phải được nghe chuyện ấy, chứ không chỉ nhận một dòng chữ trong sổ.
Trước khi ngủ, hắn đặt bản chép cạnh tờ lịch nghe. Trên dòng mới, hắn viết: *Nồi: đong trước. Chưa mang tới giếng.* Rồi hắn để chiếc bút xuống, đi kiểm máng nước cho Ô Kê một lần nữa.